Kích thước sân bóng đá 11 người theo tiêu chuẩn FIFA

Kích thước sân bóng đá 11 người tiêu chuẩn :

Sân 11 người thường dành cho các giải thi đấu lớn, giải đấu mang tính chất quốc gia, chuyên nghiệp. Thường ở Việt Nam mô hình kinh doanh phổ thông chủ yếu là sân 5 và sân 7.

kích thước sân 11

sân thi đấu bóng đá 11 người là sân đấu hình chữ nhật có chiều dài sân lớn hơn chiều ngang với thông số tiêu chuẩn như sau:

  1. Chiều dài tiêu chuẩn 105 m (tối thiểu 100m và tối đa 110m).
  2. Chiều rộng tiêu chuẩn: 68 m (tối thiểu 64m và tối đa 75m).
  3. Hai đường giới hạn dài hơn theo chiều dọc của sân bóng đá nhân tạo gọi là đường biên dọc.
  4. Hai đường giới hạn ngắn hơn theo chiều ngang sân gọi là đường biên ngang.
  5. Các đường giới hạn đều không rộng hơn 12cm.
  6. Đường thẳng kẻ suốt theo chiều ngang và chia sân thành 2 phần bằng nhau, gọi là đường giữa sân.
  7. Ở giữa đường giữa sân có một điểm rõ ràng là tâm của sân. Lấy điểm dó làm tâm kẻ đường tròn bán kính 9m15, đó là đường tròn giữa sân.
  8. Khu cầu môn tính từ điểm cách cột dọc 5m50 trên đường biên ngang của mỗi phần sân bóng đá nhân tạo, kẻ vào phía trong 2 đoạn thẳng song song, vuông góc với biên ngang và có độ dài 5m50, kẻ đường nối liền hai đầu đoạn thẳng đó. Phần diện tích được giới hạn bởi những đoạn thẳng và đường biên ngang gọi là khu cầu môn.
  9. Khung thành bóng đá nằm ở chính giữa mỗi đường biên ngang được đặt một khung cầu môn. Cầu môn được cấu tạo bởi 2 cột dọc vuông góc với đường biên ngang và cách đều 2 cột cờ góc, có khoảng cách 7m32, (tính từ mép trong của cột) được nối liền với nhau bằng một xà ngang song song và cách mặt sân 2m44 (tính từ mép dưới xà ngang).

Sân 11 ở Việt Nam có thể chia thành 04 sân 7 mini đá phong trào:

 

kích thước sân 11

Để dược hỗ trợ tư vấn tốt nhất về sân 5, sân 7, sân 11, quý khách hàng vui lòng liên hệ Hotline : 0968 090 625 để nhận :

  1. Tư vấn kích thước
  2. Tư vấn xử lý mặt bằng hiện có
  3. Tư vấn cách thi công
  4. Tư vấn sản phẩm phù hợp với mục đích sử dụng mặt bằng
  5. Lên dự toán tổng mức đầu tư
  6. Tư vấn đầu tư kinh doanh sân bóng hiệu quả nhất
  7. Thiết kế bản vẽ theo hiện trạng sẵn có.

CÔNG TY CỔ PHẦN KINH DOANH VÀ XÂY DỰNG VTN VIỆT NAM

VPGD: Phòng K1101 tòa K chung cư Xuân Mai Complex – Dương Nội – Hà Đông – Hà Nội

Email: conhantaovtn@gmail.com

Điện thoại: 0968.090.625

Website: www.conhantaovtn.vn

Đọc thêm:  

=== > Kích thước sân bóng đá 7 người tiêu chuẩn VFF

=== > Kích thước sân bóng đá 5 người tiêu chuẩn FIFA

Kích thước sân bóng đá 7 người theo tiêu chuẩn của VFF

Kích thước sân bóng đá 7 người:

kích thước sân 7

Sân bóng đá 7 người tiêu chuẩn là sân đấu có hình chủ nhật với các thông số như sau:

  • Chiều dài ( biên dọc) sân có kích thước dao động từ: 45 m đến 65 m.
  • Chiều rộng (biên ngang) sân có kích thước dao động từ: 25 m đến 45 m.
  • Đường giới hạn nửa sân kẻ suốt theo chiều ngang và chia sân thành 2 phần bằng nhau.
  • Các đường giới hạn đều không quá rộng hơn 12cm.
  • Ở giữa đường nửa sân có một điểm rõ ràng là tâm của sân. Lấy điểm đó làm tâm kể đường tròn bán kính 6m, đó là điểm giao bóng.
  • Khu cầu môn tình từ điểm cách cột dọc 5m trên đường biên ngang của mỗi phần sân, kẻ vào phía trong 2 đoạn thẳng song song, vuông góc với biên ngang và có độ dài 5m, kẻ đường nối liền hai đầu đoạn thẳng đó. Phần diện tích được giới hạn bởi những đoạn thẳng đó và đường biên ngang gọi là khu cầu môn.
  • Khung thành bóng đá nằm ở chính giữa mỗi đường biên ngang được đặt một khung cầu môn. Cầu môn được cấu tạo bởi 2 cột dọc vuông góc với biên ngang và cách đều 2 cột cờ góc, có khoảng cách 6m, (tính từ mép trong của cột) được nối liền với nhau bằng một xà ngang song song và cách mặt sân 2,10 m (tính từ mép dưới xà ngang).
  • Đường biên ngang và biên dọc rộng : 1,5m phủ cỏ để cầu thủ lấy đà ném biên.
  • Cung góc đá phạt bán kính rộng : 0,5mĐể dược hỗ trợ tư vấn tốt nhất, quý khách hàng vui lòng liên hệ Hotline : 0968 090 625 để nhận :
    1. Tư vấn kích thước
    2. Tư vấn xử lý mặt bằng hiện có
    3. Tư vấn cách thi công
    4. Tư vấn sản phẩm phù hợp với mục đích sử dụng mặt bằng
    5. Lên dự toán tổng mức đầu tư
    6. Tư vấn đầu tư kinh doanh sân bóng hiệu quả nhất
    7. Thiết kế bản vẽ theo hiện trạng sẵn có.

    CÔNG TY CỔ PHẦN KINH DOANH VÀ XÂY DỰNG VTN VIỆT NAM

    VPGD: Phòng K1101 tòa K chung cư Xuân Mai Complex – Dương Nội – Hà Đông – Hà Nội

    Email: conhantaovtn@gmail.com

    Điện thoại: 0968.090.625

    Website: www.conhantaovtn.vn

    Đọc thêm:  

    === > Kích thước sân bóng đá 5 người tiêu chuẩn VFF

    === > Kích thước sân bóng đá 11 người tiêu chuẩn FIFA

Kích thước tiêu chuẩn sân bóng đá mini 5 người theo chuẩn FIFA

Kích thước sân bóng đá 5 người tiêu chuẩn :

kích thước sân 5

Sân bóng đá 5 người theo tiêu chuẩn FìFa là một sân thi đấu hình chữ nhật với chiều dài (biên dọc) lớn lơn chiều rộng (biên ngang) của sân.

– Chiều dài sân dao động từ : 25m – 42m.

– Chiều rộng sân dao động từ : 15m – 25m.

– Các đường giới hạn phải được kẽ rõ ràng và có bề rộng bằng 8 cm.

  • Đường giới hạn theo chiều dọc của sân bóng đá nhân tạo gọi là đường biên dọc và đường giới hạn theo chiều ngang sân gọi là đường biên ngang.
  • Đường giới hạn nửa sân được kẻ theo suốt chiều ngang của sân. Ở chính giữa đường giới hạn này có một điểm rõ ràng gọi là tâm của sân. Lấy điểm này làm tâm, kể một vòng tròn có bán kính 3m.

– Khu phạt đền tính từ đường biên ngang của mỗi phần sân, lấy chân 2 cột dọc cầu môn làm tâm kẻ vào trong sân 1/4 đường tròn có bán kính 6m, nối điểm cuối của 2 cung 1/4 đường tròn được đoạn thẳng dài 3,16m song song và cách đều đường biên ngang (đường cầu môn) 6m. Khu vực trong giới hạn bởi những đường kẻ đó gọi là khu phạt đền. Đường giới hạn này gọi là đường 6m.

– Khung cầu môn nằm ở giữa mỗi đường biên ngang, gồm hai cột dọc vuông góc với mặt sân, cách nhau 3m (tính từ mép trong) được nối với nhau bằng xà ngang song song và cách mặt sân 2m (tính từ mép dưới xà). Bề rộng và bề dày của cột dọc, xà ngang phải cùng kích thước là 8cm.

– Chú ý : đường biên ngang của sân không được lớn hơn đường biên dọc của sân.

Để dược hỗ trợ tư vấn tốt nhất, quý khách hàng vui lòng liên hệ Hotline : 0968 090 625 để nhận :

  1. Tư vấn kích thước
  2. Tư vấn xử lý mặt bằng hiện có
  3. Tư vấn cách thi công
  4. Tư vấn sản phẩm phù hợp với mục đích sử dụng mặt bằng
  5. Lên dự toán tổng mức đầu tư
  6. Tư vấn đầu tư kinh doanh sân bóng hiệu quả nhất
  7. Thiết kế bản vẽ theo hiện trạng sẵn có.

CÔNG TY CỔ PHẦN KINH DOANH VÀ XÂY DỰNG VTN VIỆT NAM

VPGD: Phòng K1101 tòa K chung cư Xuân Mai Complex – Dương Nội – Hà Đông – Hà Nội

Email: conhantaovtn@gmail.com

Điện thoại: 0968.090.625

Website: www.conhantaovtn.vn

Đọc thêm:  

=== > Kích thước sân bóng đá 7 người tiêu chuẩn VFF

=== > Kích thước sân bóng đá 11 người tiêu chuẩn FIFA

Hướng dẫn cách xử lý một vài mặt bằng thường gặp phải sân bóng cỏ nhân tạo

Sân bóng đá mini là mô hình kinh doanh thu hút nhiều chủ đầu tư bởi lợi nhuận cao, quản lý đơn giản, linh hoạt, vốn ban đầu không quá nhiều…Vì vậy để tránh phải mất tiền xử lý sau này, nên việc xử lý nền hạ lúc đầu phải kiểm tra chặt chẽ và thi công nghiêm túc.

Sau đây VTN xin gửi đến quý khách hàng một số mặt bằng thường gặp phải và các cách xử lý :

1.Mặt bằng là nền đất ruộng, cách xử lý mặt bằng như sau :

  • Bóc bỏ lớp bùn và gốc dạ
  • San lấp mặt bằng bằng đất, cát, chạc, đá,…. cao hơn so với mặt bằng xung quanh để tránh ảnh hưởng bị ngập úng khi trời mưa.Theo cao độ đã được đánh dấu.
  • Dùng lu rung 12, bật rung lên 24 tấn lu từng lớp san lấp được chia nhỏ ra cao từ 30-40cm
  • Sau khi tiến hành lu lớp đầu tiên, kiểm tra xem có chỗ nào nền bị cao su khoanh vùng và xử lý.
  • Xử lý vùng bị cao su: ta tiến hành múc khu vực bị cao su lên từ 1m-1,5m sau đó dùng đất, cát san lấp bổ sung, sau đó dùng lu lu từng lớp.
  • Sau khi xử lý lớp cốt đất ta tiến hành các bước tiếp theo.

2.Mặt bằng là đất trồng cây :

  • Bóc bỏ lớp đất hữu cơ khoảng 10cm.
  • Đánh bỏ toàn bộ gốc dễ cây có trên mặt bằng để tránh sụt lún sau này.
  • San gạt lại mặt bằng theo cao độ đã được định sẵn ( lưu ý : nếu mặt bằng cao hơn khu vực xung quanh thì không cần phải san lấp, hoặc nếu thấp hơn không đáng kể ta có thể tiến hành xây rãnh thoát nước xug quanh để đảm bảo thoát nước)
  • Dùng lu rung 12 tấn bật rung 24 tấn trần qua mặt bằng xem khu vực nào bị cao su ta tiến hành xử lý như mặt bằng trên.
  • Sau đó tiến hành các bước tiếp theo.

3.Mặt bằng là nền bê tông :

Có hai phương án xử lý :

  • Một là : bắn cốt theo hiện trạng có sẵn, chỗ nào thấp ta dùng máy cào nhám rồi dùng vữa hoặc bê tông đổ lót vào theo cao độ đã định sẵn ( tiết kiệm chi phí => mặt sân không được đẹp)
  • Hai là : vẫn tiến hành làm cốt mới bằng base hoặc đổ lớp bê tông mới.

4.Mặt bằng là ao:

  • Ta tiến hành bơm hết nước sau đó vét hết bùn, và loại bỏ lớp đất cạnh ao do lâu ngày ngập trong nước đất bị thối và dễ bị cao su khi lu nèn.
  • Nếu tiền hành thi công luôn : đổ cát hoặc đất,… khoảng 30-40cm ta tiến hành lu nèn chặt 1 lần, không nên đổ quá cao khi lu nèn cốt sẽ không được đảm bảo
  • Để đảm bảo hơn ta có thể san lấp và để khoảng 1 năm sau đó mới tiến hành thi công
  • Sau đó tiến hành các bước tiếp theo.

Ngoài ra còn rất nhiều hiện trạng mặt bằng khác nhau.

Thường nhà đầu tư còn ít kinh nghiệm về thi công sân bóng, để đảm bảo chất lượng sân được tốt sau nhiều năm kinh doanh, quý khách hàng nên chọn đơn vị thi công sân bóng đá mini với một đơn vị có chuyên môn để đảm bảo chất lượng.

Và dù là thi công sân bóng đá mini bằng cách nào thì cũng cần lên kế hoạch, bản thiết kế chi tiết cũng như lưu ý dành thời gian khảo sát, theo dõi tiến độ và chất lượng công trình.

Với uy tín và kinh nghiệm trong nhiều năm kinh doanh, thi công ở lĩnh vực cỏ nhân tạo sân bóng, VTN  sẽ là đơn vị mà bạn có thể an tâm, tin tưởng hợp tác và hài lòng với chất lượng công trình nhận được.

Chúng tôi tiếp nhận mọi nhu cầu của khách hàng và khảo sát tư vấn lên phương án thi công cho khách hàng miễn phí.

Trực tiếp thi công là đội ngũ nhân viên được đào tạo bài bản, có kinh nghiệm thi công sân bóng đá cỏ nhân tạo với đa dạng các quy mô.

Ngoài ra, VTN còn cung cấp đa dạng các dịch vụ liên quan đến sân cỏ nhân tạo như: Lưới quây sân, lưới khung thành, cáp căng lưới, bóng chiếu sang, cột đèn, khung thành,…

CÔNG TY CỔ PHẦN KINH DOANH VÀ XÂY DỰNG VTN VIỆT NAM

VPGD: Tầng 11 toà K Toà nhà Xuân Mai Complex – Dương Nội – Hà Đông – Hà Nội

Mst: 0108112206

Email: conhantaovtn@gmail.com

Hotline : 0968 090 625

Các thông số cơ bản cần biết khi chọn cỏ nhân tạo

Sau đây VTN xin giới thiệu thông số của cỏ nhân tạo để quý khách hàng nắm được khi sử dụng sản phẩm cỏ nhân tạo.
1. Pile height – Chiều cao của cỏ

Chiều cao của sợi, thảm cỏ nhân tạo. Thường được đo bằng milimet (mm).

2. Stitch Rate

Là số mũi kim trên mỗi 100cm hàng cỏ. Thường vào khoảng 1300-200 mũi.
3. Dtex

Đơn vị Dtex (hay Decitex) – là một đơn vị đo lường tương ứng với 1 gram/10.000 m.

Ý nghĩa của dtex chính là khối lượng của 10.000 m sợi cỏ tính theo đơn vị gram.

Ví dụ: Dtex 9.000 có nghĩa là 10.000m sợi cỏ sẽ nặng 9.000 gram.

Ta có thể thấy thông số Dtex càng cao thì cỏ nhân tạo càng dầy và càng tốt, độ chống chịu được lực tác động lên nó mạnh hơn và sẽ bền hơn dưới các yếu tố môi trường (nhiệt độ, độ ẩm,…). Ở nước ta, hiện nay, các loại cỏ nhân tạo có thông số dtex từ 11.000 trở lên được sử dụng nhiều nhất nhằm tăng độ bền cho các sân cỏ dưới sự khắc nghiệt của thời tiết, môi trường, thời gian sử dụng nhiều.

4. Gauge

Thông số Gauge thể hiện khoảng cách giữa 2 hàng cỏ. Đơn vị tính của gauge thường là inch (3/4 inch = 19 mm).

Thông số gauge thông thường sẽ ở mức 3/4 inch, 3/8 inch, 5/8 inch, 3/16 inch, 5/32 inch và 1/2 inch.

Khoảng cách giữa hàng cỏ. Nó khoảng là 3/8 inch ~19mm. Điều đó có nghĩa là có 105 hàng cỏ trong 1m.

5. Density

Số Density thể hiện mật độ các mũi khâu, tức là số lượng mũi khâu trên 1m2 cỏ nhân tạo. Thông số này có thể được tính dựa vào thông số Gauge.

Ví dụ: gauge = 3/4 inch thì sẽ có khoảng 53 mũi khâu trên 1m2 cỏ nhân tạo.

Nắm được các thông số kỹ thuật của cỏ nhân tạo sẽ giúp chúng ta lựa chọn loại cỏ nhân tạo phù hợp với nhu cầu sử dụng của mình. Ngoài ra, còn tối đa hóa hiệu quả và thời gian sử dụng của cỏ.

6. Lớp đế của cỏ nhân tạo

Cỏ nhân tạo thường sẽ có 2 – 3 lớp đế được làm bằng cao su hoặc nylon. Cỏ nhân tạo tốt hơn thì lớp đế thảm cỏ sẽ dày và chắc chắc chắn hơn, đế mỏng dễ bị hỏng, mục nát mục khi bị tác động các yếu tố ngoại cảnh như mưa, gió bão. Muốn có một lớp đế cũng như lớp cỏ nhân tạo được tốt, tránh được các tác động của yếu tố ngoại cảnh, lớp đế cỏ nhân tạo thường được tráng qua 1 lớp hóa chất trước khi tiến hành lắp đặt, đưa vào sử dụng.
Cỏ nhân tạo với lớp đế tốt, giúp bảo vệ cỏ, cũng như chất lượng sân cỏ trong nhiều năm. Bạn nên cân nhắc lựa chọn những loại cỏ nhân tạo có lớp đế được tráng lớp bảo vệ để tuổi thọ sân cỏ được cao nhất.

Các loại cỏ được cung cấp bởi VTN luôn có chất lượng và giá cả tốt nhất. Chúng tôi có bảo hành chất lượng và tuổi thọ cỏ nhân tạo tốt nhất cho quý khách.

CÔNG TY CỔ PHẦN KINH DOANH VÀ XÂY DỰNG VTN VIỆT NAM

VPGD: Tầng 11 toà K Toà nhà Xuân Mai Complex – Dương Nội – Hà Đông – Hà Nội

Mst: 0108112206

Email: conhantaovtn@gmail.com

Hotline : 0968 090 625

Công trình sân bóng Huyện Lạc Sơn – Hòa Bình

Thông tin công trình sân bóng Huyện Lạc Sơn – Hòa Bình:

Diện tích: 1100m2

Sản phẩm: VTN 17D

Chiều cao: 50mm

Số mũi khâu/m2: 10080

Số sợi/ cụm: 8

Dtex: 8800

Chủ sân: Anh Thanh
Hình ảnh sân bóng đang dần hoàn thiện :
cỏ nhân tạo, cỏ nhân tạo sân bóng, cỏ nhân tạo sân vườn

Do nhu cầu của huyện Lạc Sơn ngày một cao, mặc dù trên địa bàn huyện đã có tới 4 cụm sân, nhưng vẫn không đủ đáp ứng nhu cầu của các cầu thủ. Sau khi được VTN tư vấn anh Thanh đã quyết định đầu tư cụm sân cho riêng mình để phục vụ nhu cầu các cầu thủ huyện Lạc Sơn. Sau khi thi công xong anh Thanh cho biết mật độ thi đấu của sân/ngày vẫn rất cao, anh cảm thấy rất hài lòng khi quyết định đầu tư sân bóng, vừa mang lại kinh tế và vừa để phục vụ nhu cầu đá bóng của chính mình.

CÔNG TY CỔ PHẦN KINH DOANH VÀ XÂY DỰNG VTN VIỆT NAM

VPGD: Tầng 11 toà K Toà nhà Xuân Mai Complex – Dương Nội – Hà Đông – Hà Nội

Mst: 0108112206

Email: conhantaovtn@gmail.com

Hotline : 0968 090 625

Tại sao nên dùng cỏ nhân tạo để kinh doanh sân bóng thay cho cỏ tự nhiên

Tại sao nên dùng cỏ nhân tạo để kinh doanh sân bóng thay cho cỏ tự nhiên

Để hình thành sân bóng hoàn hảo cho những người yêu bóng đá đòi hỏi những nhà đầu tư phải bỏ ra chi phí đáng kể để thi công và xây dựng với những vật liệu chất lượng và tốt nhất.

Những ưu điểm của cỏ nhân tạo so với cỏ tự nhiên:

  •  Cỏ nhân tạo sẽ có rất nhiều lợi ích hơn cỏ tự nhiên vì giúp các nhà đầu tư hạn chế một phần chi phí, duy trì và bảo dưỡng.
  •  Cỏ nhân tạo sẽ thi đấu được liên tục trong thời gian kéo dài.
  •  Cỏ nhân tạo mặt sân sẽ không bị ảnh hưởng nhiều sau những trận đấu.
  •  Cỏ nhân tạo có chi phí đầu tư thấp phù hợp cho sân bóng làm kinh doanh.
  •  Cỏ nhân tạo dễ thi công
  •  Cỏ nhân tạo sau khi thi công xong có thể sử dụng luôn không mất công chăm sóc.
  •  Cỏ nhân tạo thi đấu được cả dưới trời mưa mà chất lượng mặt sân sẽ không bị ảnh hưởng nhiều như cỏ tự nhiên.

Cỏ nhân tạo được phân chia thành các cấp sau :

  •  Cỏ nhân tạo thấp cấp : Thời gian sử đụng được khoảng từ 2 – 3 năm, trung bình sử dụng 2 -3 trận/ ngày.
  •  Cỏ nhân tạo trung cấp : Thời gian sử đụng được khoảng từ 4 – 6 năm, trung bình sử dụng 2 -3 trận/ ngày.
  •  Cỏ nhân tạo cao cấp : Thời gian sử đụng được khoảng từ 6- 10 năm, trung bình sử dụng 2 -3 trận/ ngày.

CÔNG TY CỔ PHẦN KINH DOANH VÀ XÂY DỰNG VTN VIỆT NAM

VPGD: Tầng 11 toà K Toà nhà Xuân Mai Complex – Dương Nội – Hà Đông – Hà Nội

Mst: 0108112206

Email: conhantaovtn@gmail.com

Hotline : 0968 090 625

Kinh nghiệm chọn giày sân bóng đá cỏ nhân tạo

Sau đây là một vài kinh nghiệm chọn giày sao cho phù hợp với sân bóng đá cỏ nhân tạo :

Ở những vùng đô thị lớn ngày nay, đa phần mặt sân bóng đất nện đã được thay thế bằng cỏ nhân tạo. Điều đó cũng dẫn đến sự thay đổi của những đôi giày đá bóng, khi loại giày bata tàu không còn phù hợp và anh em chuyển dần sang giày có đinh. Tuy nhiên, giày đinh cũng có nhiều loại để tối ưu cho từng loại mặt sân.

Một số anh em chơi bóng phong trào vẫn rất quyến luyến với giày bata tàu bởi ưu điểm nhẹ, cảm giác bóng thật chân và giá thành lại “hạt dẻ”. Thế nhưng, sử dụng những đôi bata tàu trên mặt cỏ nhân tạo là cả một nguy cơ tiềm ẩn, có thể dẫn đến những chấn thương rất đáng tiếc, đặc biệt là đứt dây chằng gối. Lý do bởi đế giày bata tàu không có đinh bám nên rất trơn trượt, nhất là điều kiện mặt sân xấu lâu ngày chưa được thay mới hoặc trời hôm đó có mưa.

Vì vậy, để bảo vệ sức khoẻ cho bản thân, anh em nên chọn cho mình những đôi giày đinh phù hợp với sân cỏ nhân tạo. Trên thị thường hiện tại có rất nhiều sản phẩm giày bóng đá đến từ nhiều thương hiệu, lớn có mà nhỏ cũng có, tây có mà ta cũng có luôn. Vấn đề chỉ là lựa chọn cho bản thân một đôi giày hợp lý với khả năng tài chính cũng như sở thích cá nhân mà thôi.

Kinh nghiệm chọn giày sân bóng đá cỏ nhân tạo

Trước khi chi tiền mua giày, anh em cần nắm vững một số điều cơ bản để tránh tốn kém mà chưa chắc đã hài lòng. Thứ nhất, mỗi người có một phom chân khác nhau (chân thon, chân bè) nên sẽ có những đôi giày phù hợp với người ngày nhưng lại kém thoải mái với người khác. Mỗi kiểu giày được thiết kế tính năng khác nhau, ví dụ hỗ trợ cho người chơi thiên về tốc độ hoặc là kiểm soát bóng, nặng hoặc nhẹ, da tổng hợp hoặc da thật… Như vậy, chưa hẳn những đôi giày tiền triệu đã tốt hơn những đôi giày giá chỉ vài trăm ngàn. Tất cả tuỳ thuộc ở cảm nhận của anh em khi thi đấu thực tế.

Trở lại với vấn đề chính của bài viết này, vậy đâu là loại giày phù hợp nhất cho mặt sân cỏ nhân tạo? Hãy nhớ rằng không phải giày đinh nào cũng đem ra đá sân nhân tạo được. Quy tắc vàng là giày đinh tán và đinh lưỡi (FG hoặc SG) không (nên) được phép sử dụng ở đây. Lý do không chỉ bởi loại đinh này sẽ làm hỏng mặt cỏ mà nó còn gây nguy hiểm cho bản thân anh em lẫn người chơi cùng. Loại đinh này được thiết kế cho những mặt sân cỏ tự nhiên (sân mềm) do có độ hãm lớn nhờ đinh cứng cắm sâu xuống đất. Nhưng nếu dùng trên sân cỏ nhân tạo lại rất dễ lật cổ chân hoặc chấn thương đầu gối.

Tương tự, những đôi giày đế bằng (IC) chỉ phù hợp nhất cho bóng đá futsal trong nhà, không nên sử dụng trên mặt sân nhân tạo vì dễ trơn trượt giống giày bata tàu.

 Kinh nghiệm chọn giày sân bóng đá cỏ nhân tạo
Sự lựa chọn phù hợp nhất dành cho sân cỏ nhân tạo là giày đế AG. Đây là loại đế nhìn qua thì hơi giống đế FG nhưng là đinh nhựa tròn và ngắn hơn, mật độ đinh cũng dày hơn. Đế AG hỗ trợ tốt nhất cho các pha chuyển hướng, hãm bóng hoặc tăng tốc trên mặt sân cỏ nhân tạo. Tuy nhiên, điểm hạn chế của đếAG là khó sử dụng nếu sân quá xấu, mặt cỏ bị đứt nhiều mà chưa được chủ sân thay thế.

Ở Việt Nam thì anh em cũng khó đòi hỏi sân được duy tu, bảo trì tốt như những nước có điều kiện. Thế nên, trong trường hợp này, lời khuyên để anh em đỡ phải đầu tư quá nhiều loại giày cho các mặt sân khác nhau là nên dùng giày đinh dăm (TF).

Giày đế TF không đủ mềm như đế AG, cũng không đủ vững chắc để chơi trong nhà như đế IC nhưng ưu điểm là đa năng, tạm ổn để chơi trên mọi điều kiện sân bãi. Giày TF có nhiều đinh tán nhỏ bố trí đều dưới mặt đế với chất liệu chính là cao su mềm. Điều này giúp cầu thủ tránh những trường hợp lật cổ chân mà vẫn giữ được độ bám sân cần thiết. Những vùng “phanh”, “hãm” ở mặt đế cũng đã được các hãng cải thiện rất nhiều để giúp anh em thoải mái “cơm đảo gà rang” trên sân.

Kinh nghiệm chọn giày sân bóng đá cỏ nhân tạo

Ngoài ra, các hãng đồ thể thao lớn cũng thiết kế một số loại đế giày lai như HG hay CG nhưng không phổ biến nên anh em không cần quá quan tâm. Và kinh nghiệm sau cùng anh em cần nhớ khi mua giày là hãy mang thử vào chân xem có vừa vặn, thoải mái không rồi hãy quyết định móc ví trả tiền. Nên nhớ, một đôi giày quá chật hay quá rộng cũng là nguyên nhân dẫn đến chấn thương khi thi đấu.

CÔNG TY CỔ PHẦN KINH DOANH VÀ XÂY DỰNG VTN VIỆT NAM

VPGD: Tầng 11 toà K Toà nhà Xuân Mai Complex – Dương Nội – Hà Đông – Hà Nội

Mst: 0108112206

Email: conhantaovtn@gmail.com

Hotline : 0968 090 625

Luật thi đấu sân bóng đá 7 người

Luật thi đấu sân bóng đá 7 người

LUẬT I: SÂN THI ĐẤU

Sân bãi cùng những đặc điểm của sân được xác định theo hình vẽ sau đây
1. Sân thi đấu hình chữ nhật có kích thước như hình vẽ, cụ thể:
– Đường biên dọc: 50m đến 75m
– Đường biên ngang: 40m đến 55m
2. Đường thẳng song song và cách biên ngang 13m, chạy suốt chiều ngang sân. Gọi là đường 13m.
3. Các đường giới hạn đều không quá rộng hơn 12cm.
4. Đường giới hạn nửa sân kẻ suốt theo chiều ngang và chia sân thành 2 phần bằng nhau.
– ~ giữa đường nửa sân có một điểm rõ ràng là tâm của sân. Lấy điểm đó làm tâm kể đường tròn bán kính 6m, đó là đường trong giữa sân.
5. Khu cầu môn:
Từ điểm cách cột dọc 5m trên đường biên ngang của mỗi phần sân, kẻ vào phía trong 2 đoạn thẳng song song, vuông góc với biên ngang và có độ dài 5m, kẻ đường nối liền hai đầu đoạn thẳng đó. Phần diện tích được giới hạn bởi những đoạn thẳng đó và đường biên ngang gọi là khu cầu môn.
6. Khu phạt đền:
Từ điểm cách cột dọc 13m trên đường biên ngang của mỗi phần sân, kẻ vào phía trong 2 đoạn thẳng song song, vuông góc với biên ngang và có độ dài 13m, kẻ đường nối liền 2 đoạn thẳng đó. Phần diện tích được giới hạn bởi những đoạn thẳng đó và đường biên ngang gọi là khu phạt đền.
Trong mỗi khu phạt đền có một điểm với đường kính 22cm được đánh dấu rõ ràng, cách điểm giữa đường biên ngang 9m – Đó là điểm phạt đền. Từ điểm phạt đền làm tâm kẻ một cung tròn ở ngoài khu phạt đền có bán kính 6m, để xác định vị trí đứng của những cầu thủ khi thực hiện quả phạt đền 9m.
7. Cột cờ góc:
~ mỗi góc sân được cắm cột cờ góc không nhọn đầu và cao tối thiểu 1m50.
8. Cung phạt góc:
Từ tâm là điểm cắm các cột cờ góc, kẻ vào trong sân 1/4 cung tròn bán kính 1m. Đây là vị trí đặt bóng để đá quả phạt góc.
9. Cầu môn:
~ chính giữa mỗi đường biên ngang được đặt một khung cầu môn. Cầu môn được cấu tạo bởi 2 cột dọc vuông góc với biên ngang và cách đều 2 cột cờ góc, có khoảng cách 6m, (tính từ mép trong của cột) được nối liền với nhau bằng một xà ngang song song và cách mặt sân 2,10m (tính từ mép dưới xà ngang).
Cột dọc và xà ngang phải có cùng kích thước và không rộng quá 12cm. Lưới phải được mắc vào cột dọc, xà ngang và gắn xuống mặt sân phía sau cầu một cách chắc chắn. Lưới phải có thiết bị căng một cách thích hợp để không gây cản trở hoạt động của thủ môn cũng như không để bóng có thể bật trở lại sân, khi bóng đã hoàn toàn vượt qua đường cầu môn.

LUẬT II: BÓNG

Bóng dùng cho thi đấu bóng đá 7 người được sử dụng tương ứng với độ tuổi của các cầu thủ (thiếu niên dùng bóng số 4 hoặc tương đương).
Bóng số 4 có kích thước:
Chu vi:  Tối đa 66cm và tối thiểu 63,5cm.
Trọng lượng: Tối đa 390gr và tối thiểu 350gr.
Áp suất: 0,6 – 1,1 Kg/cm2
Trọng tài quyết định bóng thi đấu và chỉ có trọng tài mới có quyền thay đổi bóng trong trận đấu.
Nếu bóng bị hỏng khi đang trong cuộc, trọng tài dừng trận đấu và sau đó cho trận đấu tiếp tục bằng quả “thả bóng chạm đất” tại vị trí bóng hỏng.

LUẬT III: SỐ LƯỢNG CẦU THỦ

1. Trong một trận đấu có 2 đội. Mỗi đội tối đa 7 người trong đó có 1 thủ môn.
2. Lúc bắt đầu trận đấu, đội bóng phải có tối thiểu 6 người.
3. Bất kể cầu thủ nào ở tuyến trên cũng có thể thay đổi vị trí với thủ môn nhưng phải thực hiện khi bóng ngoài cuộc và thông báo cho trọng tài biết.
4. Quy định về thay thế cầu thủ:
a. Mỗi trận đấu, đội bóng được phép đăng ký tối đa 7 cầu thủ dự bị.
b. Trong một trận đấu, đội bóng được phép thay thế 7 cầu thủ dự bị không kể vị trí và thời gian. Cầu thủ đã thay ra không được phép trở lại sân thi đấu nữa.
c. Muốn thay thế cầu thủ phải thông báo với trọng tài và chỉ được thực hiện lúc bóng ngoài cuộc, tại đường giới hạn nửa sân cắt đường biên dọc.
d. Cầu thủ dự bị chỉ được vào sân khi cầu thủ được thay đã ra khỏi sân và khi bước vào sân mới trở thành cầu thủ chính thức.
Cách xử phạt:
1. Trận đấu vẫn tiếp tục nếu có cầu thủ vi phạm mục (3). Tuy nhiên khi bóng ngoài cuộc, lập tức các cầu thủ vi phạm sẽ bị cảnh cáo.
2. Nếu cầu thủ dự bị vào sân không có phép của trọng tài, trận đấu phải dừng lại. Cầu thủ đó sẽ bị cảnh cáo và được mời ra khỏi sân hoặc truất quyền thi đấu tuỳ theo trường hợp. Trận đấu được tiếp tục lại bằng quả “thả bóng chạm đất” tại điểm có bóng khi trận đấu phải dừng lại. Nhưng nếu trong khu vực cầu môn thì quả “thả bóng chạm đất” sẽ được thực hiện tại điểm trên vạch khu cầu môn song song với đường biên ngang nơi gần vị trí bóng dừng nhất.
3. Những vi phạm khác về điều luật này, cầu thủ sẽ bị cảnh cáo và nếu trọng tài dừng trận đấu để cảnh cáo thì trận đấu được tiếp tục lại bằng quả phạt trực tiếp đội có cầu thủ phạm lỗi tại chỗ bóng dừng và lưu ý những quy định được đề cập trong Luật XIII.
4. Nếu Điều lệ của giải quy định phải trao danh sách đăng ký của cầu thủ dự bị cho trọng tài trước khi trận đấu bắt đầu, đội nào vi phạm sẽ không được quyền thay thế cầu thủ dự bị.
Những quyết định thi hành Luật.
1. Trận đấu phải dừng ngay khi có đội bóng không còn đủ 4 cầu thủ.
2. Cầu thủ bị truất quyền thi đấu sau khi trận đấu đã bắt đầu thì không được quyền thay thế cầu thủ dự bị.

LUẬT IV: TRANG PHỤC CỦA CẦU THỦ

1.a) Trang phục cơ bản và bắt buộc của một cầu thủ gồm có: áo, quần, bít tất, bọc ống quyển và giầy vải hoặc giầy vải đế có núm cao su.
b) Cầu thủ không được mang bất kỳ vật gì có thể gây nguy hiểm cho cầu thủ khác.
2. Bọc ống quyển phải được bít tất dài phủ kín. Nguyên vật liệu của bọc ống quyển phải thích hợp (như cao su, plastic, chất sáp hoặc chất liệu tương tự) và có khả năng bảo vệ cao.
3. Thủ môn phải mặc áo khác màu với các cầu thủ khác, với trọng tài và thủ môn đội bạn. Cầu thủ của 2 đội phải mặc áo khác màu nhau và khác màu trọng tài.
Cách xử phạt:
Bất kỳ cầu thủ nào vi phạm điều luật này sẽ được trọng tài mời ra khỏi sân để chỉnh lại trang phục. Nhưng nếu ngay sau đó cầu thủ đã chỉnh lại tươm tất thì vẫn được tiếp tục thi đấu. Trận đấu không cần phải dừng lại ngay lập tức khi có khi có cầu thủ vi phạm điều luật này. Cầu thủ vi phạm Luật IV được mời ra sân để chỉnh đốn lại trang phục. Khi bóng ngoài cuộc, được sự kiểm tra và cho phép của trọng tài, cầu thủ đó mới được phép vào sân tiếp tục thi đấu.
Những quyết định thi hành Luật.
1. Nếu trọng tài phát hiện có cầu thủ mang những vật mà Luật không cho phép hoặc có thể gây nguy hiểm đối với các cầu thủ khác, thì yêu cầu họ cởi bỏ. Nếu họ không thực hiện, trọng tài có quyền không cho cầu thủ đó tham gia thi đấu.
2. Cầu thủ không được tham gia trận đấu hoặc cầu thủ bị mời ra khỏi sân vì vi phạm Luật IV, muốn vào sân hoặc trở lại sân phải đợi bóng ngoài cuộc, báo cáo và được sự kiểm tra, cho phép của trọng tài.
3. Cầu thủ không được tham gia trận đấu hoặc bị buộc phải rời khỏi sân vì vi phạm Luật IV, mà tự ý vào sân hoặc trở lại sân, sẽ bị cảnh cáo.

Nếu trọng tài dừng trận đấu để cảnh cáo, thì trận đấu sẽ được tiếp tục  bằng quả phạt trực tiếp do cầu thủ của đội không phạm lỗi thực hiện tại điểm bóng dừng.

LUẬT V: TRỌNG TÀI

Trọng tài có quyền xử phạt tất cả các lỗi vi phạm, kể cả trong lúc trận đấu tạm dừng hoặc khi bóng ngoài cuộc. Mọi quyết định của Trọng tài chính trong trận đấu, kể cả kết quả trận đấu là những quyết định cuối cùng.
1. Nhiệm vụ và quyền hạn của trọng tài chính:
a. Bảo đảm việc áp dụng Luật Bóng đa.
b. Tránh thổi phạt những lỗi vi phạm có thể tạo lợi thế cho đội phạm lỗi.
c. Ghi nhận mọi diễn biến của trận đấu, theo dõi thời gian đúng theo quy định, đồng thời bù thêm những thời gian đã mất vì hoạt động y tế hoặc các nguyên nhân khác.
d. Có quyền dừng trận đấu vì bất kỳ vi phạm nào về Luật Bóng đá, tạm dừng hoặc dừng hẳn trận đấu nếu xét thấy cần thiết vì những sự cố như sự can thiệp của khán giả hay các lý do khác.
e. Ngay khi bước chân vào sân trận đấu chưa bắt đầu, có quyền cảnh cáo đối với bất cứ cầu thủ nào có hành vi khiếm nhã. Hoặc truất quyền thi đấu đối với cầu thủ có vi phạm nặng hơn. (Trong trường hợp đó đội bóng có cầu thủ bị kỷ luật được quyền thay bằng cầu thủ dự bị).
f. Trừ cầu thủ và trợ lý trọng tài, không có bất kỳ người nào được vào sân nếu không có sự đồng ý của trọng tài chính.
g. Dừng trận đấu nếu nhận thấy có cầu thủ bị chấn thương trầm trọng; cần đưa ngay cầu thủ đó ra khỏi sân càng nhanh càng tốt, và lập tức cho trận đấu tiếp tục ngay.
h. Truất quyền thi đấu (bằng xử lý thẻ đỏ) đối với bất kỳ cầu thủ nào (theo nhận định của trọng tài) là có hành vi thô bạo, phạm lỗi thô bạo, có lời lẽ thoá mạ thô lỗ, và liên tục có hành vi khiếm nhã sau khi đã bị cảnh cáo.
i. Có ký hiệu cho trận đấu tiếp tục lại, sau những lần dừng trận đấu.
j. Quyết định bóng thi đấu đúng theo quy định của Luật II.
2. Những quyết định thi hành Luật:
a. Những cầu thủ bị thương đang chảy máu, trọng tài không cho phép thi đấu.
b. Trọng tài có thể thay đổi quyết định của mình, nhưng phải trước khi trận đấu được tiếp tục trở lại.
c. Nếu một cầu thủ cùng lúc vi phạm 2 lỗi liên tiếp, trọng tài xử phạt theo lỗi nặng hơn.
3. Chú ý: Với đối tượng thi đấu là vận động viên trẻ, thì một trong những nhiệm vụ quan trọng của trọng tài trong bóng đá 7 người là giáo dục luật bóng đá, hướng dẫn các em hiểu và làm quen dần với hoạt động thi đấu bóng đá, qua đó phát hiện những năng khiếu bóng đá trẻ cho đất nước.

LUẬT VI: TRỢ LÝ TRỌNG TÀI VÀ TRỌNG TÀI THỨ TƯ

1. Trợ lý trọng tài:
Trong mỗi trận đấu phải có 2 trợ lý trọng tài với các nhiệm vụ báo hiệu cờ các tình huống sau:
a. Khi bóng đã vượt qua vạch giới hạn của sân.
b. Đội được đá phạt góc, phát bóng hoặc ném biên.
c.  Thời điểm có cầu thủ phạm luật việt vị.
d. Khi có yêu cầu về thay thế cầu thủ.
e. Khi có cầu thủ phạm luật xảy ra ngoài tầm quan sát của trọng tài chính.
f. Khi có hành vi phạm lỗi xảy ra gần vị trí của trợ lý trọng tài hơn trọng tài chính (kể cả tình huống xảy ra phạm lỗi trong khu phạt đền).
Trong các tình huống đá phạt gần vị trí của mình, trợ lý trọng tài có thể vào sân giúp trọng tài chính kiểm soát khoảng cách 6m.
2. Trọng tài thứ tư:
– Trọng tài thứ tư là thành viên của tổ trọng tài, là người có thể thay thế trọng tài chính hoặc các trợ lý nếu vì lý do nào đó không thể làm nhiệm vụ được.
– Trường hợp trọng tài chính cảnh cáo nhầm cầu thủ hoặc đưa thẻ vàng thứ hai đối với một cầu thủ nhưng không phạt thẻ đỏ cầu thủ đó, thì trọng tài thứ tư phải lập tức vào sân thông báo cho trọng tài chính biết.
– Ngoài ra trọng tài thứ tư còn có trách nhiệm thông báo với trọng tài chính những hành vi bạo lực diễn ra ngoài tầm quan sát của trọng tài chính và trợ lý trọng tài. Tuy nhiên trọng tài chính là người duy nhất có quyền quyết định những vấn đề liên quan đến trận đấu.
– Theo yêu cầu của trọng tài chính, trọng tài thứ tư có nhiệm vụ thực hiện việc thay cầu thủ, và hoàn chỉnh những thủ tục hành chính liên quan đến trận đấu.

LUẬT VII: THỜI GIAN TRẬN ĐẤU

Một trận đấu bóng đá 7 người được chia làm 2 hiệp:
– Đối với lứa tuổi thiếu niên: Mỗi hiệp 25 phút.
– Đối với lứa tuổi nhi đồng: Mỗi hiệp 20 phút.
– Giữa 2 hiệp: Được nghỉ 10 phút.
Trong các trận đấu của các cầu thủ trẻ, không được tăng thời gian thi đấu bằng những hiệp phụ. Sau khi kết thúc thời gian thi đấu theo quy định mà tỷ số hoà, nếu cần phân định thắng thua, sẽ cho đá luân lưu 9m để xác định đội thắng cuộc.
– Trọng tài phải bù thời gian đã mất trong mỗi hiệp vì các lý do: thay thế cầu thủ, di chuyển cầu thủ chấn thương rời sân, có hành động kéo dài thời gian của cầu thủ hay bất kỳ lý do nào khác.
– Ngay khi kết thúc mỗi hiệp đấu, nếu đội bóng được hưởng quả phạt đền, hiệp đấu đó phải được kéo dài đủ để thực hiện xong quả phạt đó.

LUẬT VIII: QUẢ GIAO BÓNG VÀ “THẢ BÓNG CHẠM ĐẤT”

A. Qủa giao bóng:
a. Việc chọn sân và đá quả giao bóng được xác định bằng cách tung đồng tiền. Đội ưu tiên được quyền chọn sân và đội còn lại được đá giao bóng. Cầu thủ 2 đội phải đứng trên phần sân của đội mình và cầu thủ đội không giao bóng phải đứng cách xa bóng ít nhất 6m.
Cầu thủ đá giao bóng phải đá bóng về phía trước và không được chạm bóng lần 2 nếu bóng chưa chạm một cầu thủ khác. Bóng vào cuộc ngay sau khi được đá rời chân và di chuyển.
b. Sau bàn thắng, đội vừa bị thua được đá giao bóng.
c. Bắt đầu hiệp 2, hai đội đổi sân và đội không được giao bóng ở hiệp 1 được quyền giao bóng ở hiệp 2.
d. Một bàn thắng có thể được ghi trực tiếp từ quả giao bóng.
B. Quả “thả bóng chạm đất”:
Sau mỗi lần tạm dừng trận đấu vì bất cứ lý do gì không ghi trong luật, mà bóng còn trong cuộc, trọng tài sẽ thực hiện quả “thả bóng chạm đất” tại nơi bóng dừng. Bóng vào cuộc sau khi chạm mặt sân. Nếu bóng sau khi chạm mặt sân lại vượt ra ngoài các vạch giới hạn sân trước khi có cầu thủ chạm bóng. trọng tài sẽ cho thực hiện lại.
Bóng ngoài cuộc là:
a. Khi bóng đã vượt hoàn toàn ra ngoài đường biên dọc, biên ngang dù ở mặt sân hay trên không.
b. Khi trọng tài đã thổi còi dừng trận đấu.
Bóng trong cuộc là:
Ngoài ra bóng được kể là trong cuộc từ lúc bắt đầu trận đấu đến khi kết thúc trận đấu kể cả các trường hợp sau:
a. Bóng bật vào sân từ cột dọc, xà ngang, cột cờ góc, từ trọng tài chính hoặc trợ lý trọng tài đứng trong sân.
b. Khi trọng tài chưa thổi còi dừng trận đấu sau mỗi hành động được coi là phạm lỗi.

LUẬT X: BÀN THẮNG HỢP LỆ

Bàn thắng được công nhận khi quả bóng đã hoàn toàn vượt qua đường cầu môn dưới xà ngang dù ở trên không hay mặt đất trừ:
– Những trường hợp đặc biệt do quy định.
– Bóng do cầu thủ tấn công dùng tay hoặc cánh tay ôm, ném hoặc đấm vào cầu môn.
·         Đội ghi nhiều bàn thắng hơn là đội thắng, nếu hai đội không ghi được bàn thắng hoặc có số bang thắng bằng nhau, trận đấu được coi là hoà.
·         Đối với trường hợp đá phạt, bàn thắng chỉ được công nhận nếu bóng sút vào cầu môn đội phạm lỗi.
·         Bàn thắng không được công nhận nếu vì bất  cứ lý do gì không vượt qua đường cầu môn.

LUẬT XI: VIỆT VỊ

Trong bóng đá 7người Luật việt vị được quy định cụ thể như sau:
1. Một cầu thủ ở vị trí việt vị khi cầu thủ đó đã di chuyển qua đường 13m thuộc phần sân đối phương và chiếm vị trí gần đường biên ngang sân đối phương hơn bóng, trừ trường hợp:
a. Nếu có 2 cầu thủ đối phương cùng đứng gần đường biên ngang như mình.
b. Nhận bóng do cầu thủ đối phương chủ động chuyền đến.
c. Nếu nhận bóng trực tiếp từ quả phát bóng, phạt góc, ném biên, thả bóng của trọng tài.
2. Một cầu thủ ở vị trí việt vị có thể chưa bị coi là phạm luật. Cầu thủ đó chỉ bị phạt việt vị nếu vào thời điểm đồng đội chuyền bóng hoặc khống chế bóng, cầu thủ đó – theo nhận định của trọng tài – có hành vi chủ động trong việc:
a. Tham gia vào tình huống trận đấu.
b. Gây trở ngại cho cầu thủ đối phương.
c. Tìm cách chiếm lợi thế trong vị trí việt vị.
3. Nếu có cầu thủ phạm luật việt vị, trọng tài cho đội đối phương hưởng quả phạt trực tiếp.
4. Đường 13m của phần sân được xác định bởi đường thẳng chạy suốt bề ngang sân, song song và cách đều đường biên ngang 13m.
Những quyết định thi hành Luật.
1. Phạt cầu thủ việt vị không tính ở thời điểm nhận bóng, mà xác định vào thời điểm đồng đội chuyền bóng về hướng cầu thủ đó. Như vậy một cầu thủ không ở vị trí việt vị trong thời điểm đồng đội chuyền bóng hay đá phạt và đã chạy nhanh hơn bóng thì không vi phạm lỗi việt vị.
2. Một cầu thủ đứng ngang hàng với một cầu thủ đối phương và có một cầu thủ đối phương khác đứng gần đường biên ngang sân đối phương hơn hoặc đứng ngang với 2 cầu thủ đối phương cuối cùng, thì không bị coi là ở vào vị trí việt vị.
3. Trong khi áp dụng luật việt vị, các trợ lý trọng tài chỉ căng cờ báo việt vị khi họ đã xác định rõ cầu thủ phạm luật việt vị. Do đó trong trường hợp còn nghi ngờ, các trợ lý trọng tài không được tham gia vào tình huống đó.

LUẬT XII: LỖI VÀ HÀNH VI KHIẾM NHÃ

A. Những lỗi thô baok bị phạt trực tiếp.
Cầu thủ vi phạm một trong 6 lỗi sau đây mà theo nhận định của trọng tài là cố tình gây nguy hiểm hoặc dùng sức một cách thô bạo:
1. Đá hoặc tìm cách đá đối phương.
2. Ngáng chân cầu thủ đối phương.
3. Nhẩy vào đối phương.
4. Chèn hích đối phương.
5. Đánh hoặc tìm cách đánh đối phương.
6. Xô đẩy đối phương.
Hoặc vi phạm 1 trong 4 lỗi sau đây:
1. Khi xoạc bóng đã chạm chân đối phương trước khi chạm bóng.
2. Lôi kéo đối phương.
3. Nhổ nước bọt vào đối phương.
4. Cố tình dùng tay chơi bóng như: ôm bóng, đánh bóng, đẩy bóng bằng tay hoặc cánh tay (không áp dụng quy định này cho thủ môn ở trong khu phạt đền của đội mình).
Sẽ bị phạt quả trực tiếp tại chỗ phạm lỗi do đội đối phương thực hiện. Nhưng nếu cầu thủ phạm lỗi trong khu vực cầu môn của đội đối phương thì quả phạt trực tiếp được thực hiện ở bất kỳ điểm nào trong khu vực cầu môn.
Nếu cầu thủ phạm 1 trong 10 lỗi trên trong khu phạt đền của đội mình thì sẽ bị phạt đền 9m.
Quả phạt 9m không phụ thuộc vị trí bóng đang ở đâu nếu là hành động phạm lỗi xảy ra trong khu vực phạt đền và bóng đang trong cuộc.
B. Những lỗi thông thường bị phạt quả trực tiếp:
a. Một cầu thủ vi phạm 1 trong 4 lỗi sau đây sẽ bị phạt quả trực tiếp:
1. Theo nhận định của trọng tài, cầu thủ có lỗi chơi nguy hiểm.
2. Cố tình ngăn cản đường di chuyển của đối phương.
3. Ngăn cản thủ môn đưa bóng vào cuộc.
4. Phạm một trong bất kỳ lỗi nào khác, không được đề cập đến ở Luật 12, mà trận đấu phải dừng để cảnh cáo hoặc đuổi cầu thủ.
b. Năm lỗi vi phạm của thủ môn.
Thủ môn đang ở trong khu vực phạt đền của đội mình phạm vào bất kỳ một trong 5 lỗi sau đây đều bị phạt quả trực tiếp: Quả phạt được thực hiện trên đường 13m nơi gần điểm phạm lỗi nhất.
1. Sau khi đã khống chế bóng bằng tay, quá thời gian 6 giây không đưa bóng vào cuộc.
2. Phạm lỗi “Bắt bóng hai lần” trước khi đưa bóng vào cuộc (đã thả bóng vào cuộc, thủ môn dùng tay bắt bóng lần thứ 2).
3. Dùng tay chạm bóng do đồng đội chủ động đá về bằng bàn chân.
4.Bắt bóng từ quả ném biên về của đồng đội.
5. Theo nhận định của trọng tài, thủ môn có những thủ thuật câu giờ, làm chậm trận đấu.
C. Những lỗi bị cảnh cáo.
Cầu thủ sẽ bị cảnh cáo bằng thẻ vàng nếu vi phạm một trong 7 lỗi sau đây:
1. Có hành vi phi thể thao.
2. Có hành động hoặc lời nói phản đối quyết định của trọng tài và các thành viên khác.
3.Vi phạm luật nhiều lần.
4. Có hành vi kéo dài thời gian khi đưa bóng vào cuộc.
5. Không chấp hành quy định khoảng cách 6m trong những quả đá phạt.
6. Tự ý rời khỏi sân khi không có phép của trọng tài.
7. Vào sân hoặc trở lại sân khi không có phép của trọng tài.
Nếu trận đấu phải dừng lại do cầu thủ vi phạm 1 trong 7 lỗi  kể trên, trận đấu sẽ được tiếp tục lại bằng quả phạt trực tiếp.
D. Những lỗi bị truất quyền thi đấu.
Cầu thủ sẽ bị phạt thẻ đỏ (truất quyền thi đấu) nếu vi phạm một trong những lỗi sau đây:
1. Vi phạm lỗi đặc biệ nghiêm trọng.
2. Có hành vi bạo lực.
3. Nhổ nước bọt vào đối phương hay bất kỳ ai khác.
4. Có hành vi phạm lỗi với đối phương nhằm ngăn cản một cơ hội ghi bàn rõ rệt.
5. Cố tình dùng tay chơi bóng nhằm ngăn cản một cơ hội ghi bàn rõ rệt (trừ thủ môn trong khu phạt đền của mình).
6. Có lời lẽ kích động, lăng mạ hay thô tục.
7. “Độngtác xoạc bóng từ sau gây nguy hiểm cho sự an toàn cơ thể của đối phương phải được xem là hành vi cực kỳ nghiêm trọng”.
8. Nhận thẻ vàng thứ 2 trong một trận đấu.
Những quy định thi hành
1. Cầu thủ bị truất quyền thi đấu (thẻ đỏ) nếu lỗi xảy ra khi bóng trong cuộc, trận đấu được tiếp tục bằng một quả phạt trực tiếp tại chỗ phạm lỗi, nếu xảy ra khi bóng ngoài cuộc, trận đấu được tiếp tục theo tình huống bóng ra ngoài cuộc trước đó.
2. Bất kỳ hành vi giả vờ nào của cầu thủ đang thi đấu trên sân nhằm đánh lừa trọng tài đều bị xem làhành vi phi thể thao và bị xử phạt cảnh cáo (thẻ vàng).

LUẬT XIII:NHỮNG QUẢ PHẠT

 1. Trong bóng đá 7 người, tất cả những quả phạt đều là trực tiếp và bàn thắng được công nhận khi cầu thủ đá phạt sút thẳng bóng vào cầu môn đối phương. Nếu cầu thủ đó đá vào cầu môn đội mình bàn thắng không được công nhận, đối phương được đá phạt góc để tiếp tục trận đấu.
2. Thực hiện quả phạt, cầu thủ đối phương phải đứng cách xa bóng tối thiểu 6m.
3. Quy định về thực hiện quả phạt trên vạch 13cm.
a. Cầu thủ vi phạm những lỗi thô bạo, nghiêm trọng, ngăn cản một cơ hội ghi bàn hoặc phản đối quyết định của trọng tài, có hành vi khiếm nhã, lời lẽ thô tục – mà vị trí phạm lỗi ở bất kỳ điểm nào ngoài khu vực phạt đền, trên phần sân của đội phạm lỗi; không kể bóng ở đâu miễn là đang trong cuộc – đội bóng đó sẽ bị phạt quả trực tiếp tại điểm giữa đường 13m.
b. Khi đá quả phạt 13m, trừ thủ môn đội bị phạt, tất cả các cầu thủ của 2 đội bóng phải đứng sau đường 13m, cầu thủ đội phạt phải đứng cách xa điểm đặt bóng 6m, cầu thủ đá phạt phải sút bóng với mục đích ghi bàn thắng chứ không được quyền chuyển bóng cho cầu thủ khác.
c. Trước khi quả phạt thực hiện xong, không một cầu thủ nào được chạm bóng cho đến khi bóng chạm thủ môn, cột dọc, xà ngang hay ra ngoài các đường giới hạn.
Cách xử phạt:
Bất kỳ vi phạm nào với quy định thực hiện quả phạt trên đường 13m rơi vào:
1. Đội bị phạt: Quả phạt được thực hiện lại nếu không ghi thành bàn thắng.
2. Đội được đá phạt: Không kể cầu thủ đá phạt – nếu bàn thắng được ghi sẽ không được công nhận và thực hiện lại quả phạt.
3. Cầu thủ thực hiện quả phạt:
+ Sau khi bóng vào cuộc lại tiếp tục chạm bóng lần thứ 2, đội đối phương được hưởng quả phạt tại nơi phạm lỗi.
+ Di chuyển đến bóng không liên tục (được coi là có hành vi khiếm nhã) nếu ghi bàn thắng, thực hiện lại quả phạt và cầu thủ đó bị cảnh cáo.

LUẬT XIV: PHẠT ĐỀN

Đội bóng có cầu thủ phạm một trong 10 lỗi phạt trực tiếp mà có vị trí phạm lỗi trong khu phạt đền của đội mình lúc bóng đang trong cuộc, sẽ bị phạt quả phạt đền.
Từ điểm phạt đền 9m, bóng trực tiếp vào cầu môn đội phạm lỗi sẽ được công nhận là bàn thắng hợp lệ.
Khi có quả phạt đền ở phút cuối cùng của mỗi hiệp chính hoặc hiệp phụ, phải bù thêm thời gian để thực hiện xong quả phạt đền.
1. Vị trí bóng đá và cầu thủ:
a. Bóng: Được đặt ngay trên điểm phạt đền 9m.
b. Cầu thủ thực hiện quả phạt đền:
Phải được thông báo rõ ràng.
c. Thủ môn đội bị phạt: Đứng trên đường cầu môn trong khoảng giữa 2 cột dọc, mặt hướng về cầu thủ đá phạt, cho đến khi bóng được đá đi.
d. Các cầu thủ khác:
– Đứng trong sân.
– Ngoài khu phạt đền.
– Phía sau điểm phạt đền.
– Cách xa điểm phạt đền tối thiểu 6m.
2. Trọng tài:
– Chỉ thổi còi cho phép thực hiện quả phạt đền khi tất cả các cầu thủ đã đứng vị trí theo yêu cầu của Luật.
– Chỉ ra quyết định khi đã thực hiện xong quả phạt đền.
3. Trình tự thực hiện quả phạt đền:
– Cầu thủ thực hiện quả phạt đền phải thực hiện chạy đà liên tục và đá bóng về phía trước.
– Không được tiếp tục chạm bóng lần thứ hai khi chưa có cầu thủ nào chạm vào bóng.
– Bóng được là voà cuộc khi bóng được đá đi và di chuyển về phía trước.
Khi quả phạt đền thực hiện trong thời gian bù thêm giờ để thực hiện xong quả phạt đền hoặc khi thực hiện lại quả phạt đền đó thì trận đấu (hoặc hiệp đấu) sẽ được kết thúc ngay khi:
– Bóng vào thẳng cầu môn.
– Bóng chạm thủ môn, khung cầu môn vào cầu môn.
– Bóng ra ngoài hoặc bật từ thủ môn, khung cầu môn trở lại sân.
Cách xử phạt:
a. Đội bị vi phạm luật này, sẽ thực hiện lại quả phạt đền nếu bóng không vào cầu môn.
b. Trừ cầu thủ thực hiện quả phạt, đội được hưởng quả phạt vi phạm luật này, sẽ được thực hiện lại quả phạt đền nếu bóng vào cầu môn.
c. Nếu cầu thủ thực hiện quả phạt vi phạm sau khi bóng vào cuộc thì đội đối phương sẽ được hưởng quả phạt trực tiếp tại chỗ phạm lỗi.
d. Nếu cầu thủ cả 2 đội cùng vi phạm, quả phạt được thực hiện lại bất kể kết quả thế nào.

THỂ THỨC THI ĐÁ PHẠT LUÂN LƯU 9M

1. Chỉ những cầu thủ có mặt trên sân lúc trọng tài kết thúc trận đấu mới được phép thi đá luân lưu 9m (kể cả cầu thủ được phép ra ngoài để chữa vết thương).
2. Mỗi đội đá 5 quả luân lưu theo những quy định sau đây:
a. Hai đội lần lượt đá xen kẽ nhau.
b. Trước khi thực hiện đủ 5 quả, một đội đã ghi được số bàn thắng nhiều hơn số bàn thắng đội kia có thể ghi được nếu đá đủ 5 quả thì trọng tài cho ngừng lại.
c. Nếu sau khi đá 5 quả mà số bàn thắng bằng nhau hoặc không đội nào ghi được bàn thắng sẽ tiếp tục thực hiện đá xen kẽ từng quả một cho tới khi có đội ghi được nhiều bàn thắng hơn.
3. Những quy định thi hành Luật:
Khi kết thúc trận đấu, nếu hai đội bóng có số lượng cầu thủ không bằng nhau (do bị thẻ đỏ hoặc chấn thương không thể trở lại sân) đội có nhiều cầu thủ hơn sẽ phải giảm số lượng để khi bắt đầu đa luân lưu hai đội có số cầu thủ bằng nhau. Đội trưởng phải thông báo với trọng tài danh sách những cầu thủ không tham gia thi đá luân lưu 9m.

LUẬT XV: NÉM BIÊN

Khi quả bóng hoàn toàn vượt khỏi đường biên dọc dù ở mặt sân hoặc ở trên không, cầu thủ của đội không chạm bóng cuối cùng được ném biên từ vị trí bón vượt khỏi đường biên dọc, về bất kỳ hướng nào. Cầu thủ ném biên phải quay mặt vào sân, có thể giẫm một pần mỗi chân lên biên dọc hoặc đứng hẳn ra ngoài sân cách đường biên tối đa 1m. Phải dùng lực đều cả 2 tay ném bóng từ phía sau liên tục qua đầu. Bóng được coi là trong cuộc ngay sau khi vào sân, và cầu thủ ném biên không được chơi bóng lần nữa nếu chưa chạm hoặc đá bởi một cầu thủ khác. Từ quả ném biên bóng trực tiếp vào cầu môn, bàn thắng không được công nhận.
Cách xử phạt:
a. Ném biên không đúng quy định, quyền ném biên được chuyển cho đối phương.
b. Cầu thủ đối phương nhảy lên hoặc quơ tay trước mặt cầu thủ ném biên là hành vi khiếm nhã bị cảnh cáo và phạt quả trực tiếp.

LUẬT XVI: QUẢ PHÁT BÓNG

Khi quả bóng hoàn toàn vượt hẳn qua đường biên ngang phía ngoài khu cầu môn, dù ở mặt sân hoặc trên không, do người chạm bóng cuối cùng là cầu thủ của đội tấn công, đội phòng thủ được thực hiện quả phát bóng ở bất kỳ vị trí nào trong khu vực cầu môn. Bóng được coi là trong cuộc khi được đá trực tiếp ra khỏi khu vực phạt đền. Thủ môn không được quyền nhận bóng từ quả phát bóng để rồi cầm tay đá phát bóng lên. Nếu bóng chưa ra khỏi khu vực phạt đền nghĩa là chưa trực tiếp vào cuộc, sẽ phải thực hiện lại quả phát bóng. Cầu thủ thực hiện quả phát bóng không được chạm bóng lần thứ 2 khi bóng chưa chạm hoặc đá bởi một cầu thủ khác. Bàn thắng được công nhận từ quả phát bóng trực tiếp vào cầu môn.
Khi đá phát bóng, cầu thủ đối phương phải đứng ngoài khu phạt đền đến khi bóng ra khỏi khu phạt đền.

LUẬT XVII: QUẢ PHẠT GÓC

Khi bóng hoàn toàn vượt hẳn đường biên ngang phía ngoài khung cầu môn, dù ở mặt sân hoặc trên không do người chạm cuối cùng là cầu thủ của đội phòng thủ, thì đội tấn công sẽ được đá quả phạt góc. Khi thực hiện quả phạt góc bóng trực tiếp vào cầu môn – bàn thắng được công nhận. Các cầu thủ đội đối phương phải đứng sau vạch quy định, cách bóng 6m cho đến khi bóng vào cuộc.
– Cầu thủ đá phạt không được liên tục chạm bóng lần thứ 2.
– Đối với bất kỳ vi phạm nào khác, quả phạt góc phải được thực hiện lại.

Luật thi đấu sân bóng đá mini 5 người

Luật thi đấu sân bóng đá mini 5 người

LUẬT 1: SÂN THI ĐẤU

1. Kích thước:
Sân hình chữ nhật, chiều dọc tối đa 42m và tối thiểu 25m, chiều ngang tối đa 25m và tối thiểu 15m. Trong mọi trường hợp chiều dọc sân phải lớn hơn chiều ngang sân.
2. Các đường giới hạn:
Các đường giới hạn trên sân phải kẻ rõ ràng có bề rộng 8cm. Đường giới hạn theo chiều dọc sân gọi là đường biên dọc và đường giới hạn theo chiều ngang sân gọi là đường biên ngang. Đường giới hạn nửa sân được kẻ theo suốt chiều ngang của sân. ~ chính giữa đường giới hạn này có một điểm rõ ràng gọi là tâm của sân. Lấy điểm này làm tâm, kể một vòng tròn có bán kính 3m.
3. Khu phạt đền:
Từ biên ngang của mỗi phần sân, lấy chân 2 cột dọc cầu môn làm tâm kẻ vào trong sân 1/4 đường tròn có bán kính 6m, nối điểm cuối của 2 cung 1/4 đường tròn được đoạn thẳng dài 3,16m song song và cách đều đường biên ngang (đường cầu môn) 6m. Khu vực trong giới hạn bởi những đường kẻ đó gọi là khu phạt đền. Đường giới hạn này gọi là đường 6m.
4. Điểm phạt đền thứ nhất:
Trên đường 6m và ở giữa đoạn thẳng 3,16m có một điểm rõ ràng. Đó là điểm phạt đền thứ nhất.
5. Điểm phạt đền thứ hai:
Trên đường thẳng góc với biên ngang ở vị trí cách biên ngang 10m có một điểm rõ ràng. Đó là điểm phạt đền thứ hai.
6. Cung đá phạt góc:
a. Lấy tâm là giao điểm của biên dọc và biên ngang của mỗi góc sân, kẻ phía trong sân 1/4 đường tròn có bán kính 25cm. Đây là vị trí đặt bóng khi đá quả phạt góc.
b. Có thể kẻ phía ngoài sân một đoạn thẳng vuông góc với đường biên ngang cách điểm góc sân 5mđể xác định vị trí đứng của cầu thủ đội phòng thủ khi đối phương thực hiện quả phạt góc.
7. Khu vực thay cầu thủ dự bị của mỗi đội bóng:
Trên đường biên dọc phía đặt ghế ngồi của cầu thủ dự bị, mỗi đội bóng có khu vực thay đổi cầu thủ dự bị của đội mình. Khu vực này nằm trên đường biên dọc có độ dài 5m, cách đường giới hạn nửa sân 5m, được xác định bởi 2 đoạn thẳng vuông góc với đường biên dọc và có độ dài 80cm (40cm ở phía trong và 40cm ở phía ngoài sân). Khi thay người, các cầu thủ phải ra, vào trong khu vực thay người của đội mình.
Ghi chú: Trong giờ nghỉ giữa 2 hiệp, khu vực thay người của 2 đội sẽ hoán đổi để việc thay người của đội bóng được thuận lợi.
8. Khung cầu môn:
~ giữa mỗi đường biên ngang có một khung cầu môn, gồm hai cột dọc vuông góc với mặt sân, cách nhau 3m (tính từ mép trong) được nối với nhau bằng xà ngang song song và cách mặt sân 2m (tính từ mép dưới xà). Bề rộng và bề dày của cột dọc, xà ngang phải cùng kích thước là 8cm.
Khung cầu môn có thể tháo rời được, nhưng trước trận đấu phải lắp đặt chặt chẽ, an toàn và gắn cố định xuống mặt sân. Lưới phải có khung đỡ thích hợp phía sau cầu môn và được mắc chắc chắn vào xà ngang, cột dọc và mặt sân (Hình 3).
9. Mặt sân:
Mặt sân phải bằng phẳng và không thô nhám. Khuyến khích nên dùng mặt sân lát gỗ hoặc phủ chất liệu. Không được dùng mặt sân bằng bê tông hoặc tráng nhựa đường.
Ghi chú: Lưới cầu môn phải làm bằng sợi vải, sợi đay hoặc dây nilon. Tuy nhiên những sợi nilon không được nhỏ hơn sợi vải, sợi đay.

NHỮNG QUYẾT ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG LUẬT BÓNG ĐÁ 5 NGƯỜI FIFA

1. Trong những trận đấu quốc tế, kích thước của sân phải là: chiều dọc 38 – 42m và chiều ngang là: 18 – 22m.
2. Trong trường hợp đường biên ngang có kích thước: 15m đến 16m thì bán kính của cung 1/4 vòng tròn phải là 4m. Nhưng điểm phạt đền thứ nhất vẫn cách xa điểm giữa của đường cầu môn 6m.
3. Trong những trận đấu giữa các câu lạc bộ có thể dùng mặt sân bằng cỏ tự nhiên, cỏ nhân tạo hoặc bằng đất nhưng không được dùng trong những trận đấu quốc tế.

LUẬT II: BÓNG

Bóng phải hình tròn, chất liệu vỏ ngoài của bóng phải bằng da hoặc chất liệu khác được công nhận. Không được sử dụng những chất liệu có thể gây nguy hiểm cho cầu thủ.
Áp suất của bóng: Từ 400 – 600 gr/cm2 .
Chu vi quả bóng tối thiểu là 62cm và tối đa là 64cm. Trọng lượng quả bóng lúc bắt đầu trận đấu không được nặng hơn 440g và nhẹ hơn 400g.
Chỉ có trọng tài chính mới có quyền thay đổi bóng trong trận đấu.

LUẬT III: SỐ LƯỢNG CẦU THỦ

1.      Mỗi trận đấu phải có hai đội, mỗi đội có tối đa là 5 cầu thủ, trong đó coa một thủ môn.
2.      Trong bất kỳ trận đấu nào của một giải chính thức do FIFA, Liên đoàn bóng đá Châu lục hay Liên đoàn bóng đá quốc gia điều hành đều có quyền thay đổi cầu thủ thi đấu bằng cầu thủ dự bị.
3.      Số lượng cầu thủ dự bị tối đa là 7.
4.      Số lần thay đổi cầu thủ dự bị (kể cả thay thế thủ môn dự bị) trong một trận đấu không hạn chế và có thể được tiến hành cả khi bóng trong cuộc hoặc ngoài cuộc. Cầu thủ đã thay ra sân vẫn được quyền vào lại sân thay cầu thủ khác.
5.      Việc thay cầu thủ dự bị phải được thực hiện đúng các quy định sau đây:
a.      Cầu thủ rời sân phải ra khỏi đường biên dọc trong phạm vi Skhu vực thay cầu thủ⬝ của đội mình.
b.      Cầu thủ vào sân cũng phải vào từ Skhu vực thay cầu thủ⬝ của đội mình và phải đợi cầu thủ bị thay đã hoàn toàn ra ngoài sân.
c.       Một cầu thủ dự bị được tham gia thi đấu hay không là thuộc quyền quyết định của trọng tài.
d.      Việc thay người kết thúc khi cầu thủ bị thay đã ra ngoài sân và cầu thủ dự bị đã vào sân. Lúc này cầu thủ dự bị trở thành chính thức và cầu thủ được thay ra không còn là chính thức nữa.

6.      Cầu thủ nào cũng có thể thay vị trí của thủ môn nhưng phải báo trước cho một trong hai trọng tài biết và việc thay người phải tiến hành vào lúc trận đấu tạm dừng và phải thay trang phục như quy địnhtrong Điều 5 Luật IV (trang phục cầu thủ).

Cách xử phạt:
1.      Trận đấu vẫn tiếp tục nếu có cầu thủ vi phạm mục 6. Tuy nhiên khi bóng ngoài cuộc, ngay lập tức những cầu thủ vi phạm sẽ bị cảnh cáo.
2.      Trong khi thay người, nếu cầu thủ dự bị vào sân trước khi cầu thủ bị thay ra khỏi sân hoàn toàn, trọng tài sẽ dừng trận đấu buộc cầu thủ bị thay nhanh chóng rời sân, cảnh cáo cầu thủ vào sân, cho trận đấu tiếp tục lại bằng quả phạt gián tiếp đội có cầu thủ phạm lỗi tại chỗ bóng dừng. Nếu lúc ấy bóng ở trong khu phạt đền thì quả phạt gián tiếp sẽ được thực hiện trên vạch 6m tại điểm gần vị trí bóng dừng nhất.
3.      Trong khi thay cầu thủ dự bị nếu cầu thủ ra sân không đúng phạm vi Skhu vực thay cầu thủ⬝ của đội mình, trọng tài dừng trận đấu, cảnh cáo cầu thủ phạm lỗi và cho trận đấu tiếp tục lại bằng quả phạt gián tiếp đội có cầu thủ phạm lỗi tại chỗ bóng dừng. Nếu lúc ấy bóng ở trong khu phạt đền thì quả bóng phạt gián tiếp sẽ được thực hiện trên vạch 6m tại địa điểm gần vị trí bóng dừng nhất.

LUẬT IV: TRANG PHỤC CẦU THỦ

1.      Cầu thủ không được mang bất kỳ vật gì gây nguy hiểm cho các cầu thủ khác.
2.      Trang phục cơ bản của một cầu thủ gồm có: áo thun, quần đùi, bít tất dài, bọc ống quyển và giầy. Chỉ loại giầy bằng vải, da mềm hay giầy thể thao đế cao su mềm hoặc chất liệu tương tự mới được sử dụng. Việc mang giầy là bắt buộc.
3.      Áo cầu thủ phải có số và các cầu thủ trong đội phải có số áo khác nhau. Màu áo của cầu thủ 2 đội phải khác mầu nhau và khác mầu với trọng tài.
4.      Thủ môn được quyền mặc quần dài và thủ môn phải mặc áo có màu dễ dàng phân biệt với các cầu thủ khác và trọng tài.
5.      Trường hợp cầu thủ đang thi đấu trong sân muốn thay thế thủ môn, cầu thủ đó mặc áo thủ môn đúng số áo mà cầu  thủ đó đăng ký.
Cách xử phạt:
Bất kỳ cầu thủ nào vi phạm điều luật này sẽ được trọng tài mời ra khỏi sân để chỉnh lại trang phục. Khi trang phục đã chỉnh tề, muốn trở lại sân phải chờ lúc bóng ngoài cuộc và phải được sự đồng ý của một trong hai trọng tài.

LUẬT V: TRỌNG TÀI CHÍNH

Mỗi trận đấu có một trọng tài chính điều khiển. Quyền hạn, nhiệm vụ của trọng tài chính do Luật Bóng đá quy định và có hiệu lực ngay khi trọng tài bước vào sân và kết thúc khi trọng tài rời khỏi sân.
Trọng tài có quyền xử phạt tất cả các lỗi vi phạm kể cả trong những lúc trận đấu tạm dừng hoặc khi bóng ngoài cuộc. Mọi quyết định của trọng tài trong trận đấu, kể cả kết quả trận đấu là những quyết định cuối cùng.
Nhiệm vụ và quyền hạn của trọng tài chính:
1.      Đảm bảo việc áp dụng Luật Bóng đá.
2.      Không thổi phạt những lỗi có thể tạo lợi thế cho đội phạm lỗi.
3.      Ghi nhận mọi sự cố diễn biến trước, trong và sau trận đấu.
4.      Đảm nhiệm việc theo dõi thời gian thi đấu trong trường hợp không có thư ký bấm giờ và trọng tài thứ ba.
5.      Có quyền dừng trận đấu vì bất kỳ vi phạm nào về Luật bóng đá. Tạm dừng hoặc dừng hẳn trận đấu xét thấy cần thiết vì những sự cố can thiệp của khán giả hay những lý do khác. Trong những trường hợp như thế trọng tài phải gửi  báo cáo chi tiết kịp thời cho ban tổ  chức có thẩm quyền đúng theo quy định của Liên đoàn bóng đá Quốc gia mà trận đấu được tổ chức.
6.      Ngay khi bước vào sân, trọng tài có quyền cảnh cáo đối với bất cứ cầu thủ nào có hành vi khiếm nhã, vi phạm Luật và nếu tái phạm sẽ truất quyền thi đấu cầu thủ đó. Trong những trường hợp như thế, trọng tài phải gửi danh sách cầu thủ phạm lỗi kịp thời về cho ban tổ chức có thẩm quyền đúng theo quy định của Liên đoàn bóng đá Quốc gia.
7.      Trừ cầu thủ và trọng tài thứ 2, không cho phép bất kỳ người nào vào sân khi không được sự cho phép của trọng tài chính.
8.      Dừng trận đấu nếu nhận thấy có cầu thủ bị chấn thương trầm trọng, cho đưa ngay cầu thủ đó ra khỏi sân và lập tức cho trận đấu tiếp tục. Nếu có cầu thủ bị chấn thương nhẹ thì trọng tài đợi bóng ngoài cuộc mới dừng trận đấu. Cầu thủ đó nếu có khả năng đi tới đường biên ngang  hoặc biên dọc để chăm sóc thì phải được chăm sóc ngoài sân.
9.      Truất quyền thi đấu bất kỳ cầu thủ nào  theo nhận định của trọng tài – phạm lỗi thô bạo, có hành vi bạo lực hoặc dùng lời lẽ thoá mạ, thô tục.
10.  Ra hiệu cho trận đấu tiếp tục lại sau mỗi lần dừng trận đấu.
11.  Quyết định bóng thi đấu đúng theo quy định của Luật II.

LUẬT VI: TRỌNG TÀI THỨ 2

Mỗi trận đấu có một trọng tài thứ 2 hoạt động ở phía đối diện với trọng tài chính.
Trọng tài thứ 2 cũng có quyền hạn như trọng tài chính trừ những nội dung được đề cập trong mục 4 Luật V. Trọng tài thứ 2 còn có quyền dừng trận đấu vì bất kỳ vi phạm nào về Luật Bóng đá như phần đầu mục 5 Luật V đã ghi.
Ngoài ra, trọng tài thứ 2 còn có nhiệm vụ sau đây:
1.      ~ trận đấu không có thư ký bấm giờ và trọng tài thứ 3, trọng tài thứ 2 chịu trách nhiệm theo dõi thời gian 2 phút phạt dành cho đội có cầu thủ bị truất quyền thi đấu.
2.      Theo dõi việc thay đổi cầu thủ có đúng quy định của Luật này hay không.
3.      Theo dõi thời gian hội ý: 1 phút.
Trong những trường hợp có sự can thiệp thiếu trách nhiệm của trọng tài thứ 2, trọng tài chính có quyền thay trọng tài thứ 2 đồng thời báo cáo sự việc về Ban tổ chức có thẩm quyền
Trọng tài thứ 2 phải trang bị còi.

LUẬT VII: THƯ KÝ BẤM GIỜ VÀ TRỌNG TÀI THỨ 3

Trong những trận đấu quốc tế  phải có trọng tài thứ 3 hoạt động cùng với thư ký bấm giờ. Dưới đây là nhiệm vụ của 2 quan chức này.
A. Nhiệm vụ của thư ký bấm giờ
1. Đảm bảo thời gian thi đấu theo đúng các điều khoản của Luật VIII.
Để làm việc đó phải:
a.       Bấm để đồng hồ chạy khi bắt đầu quả giao bóng, quả đá biên, quả phát bóng, quả phạt góc, quả phạt trực tiếp, những quả đá phạt ở điểm phạt đền 2 quả Sthả bóng chạm đất⬝ hoặc sau lần hội ý.
b.      Bấm dừng đồng hồ khi bóng ngoài cuộc.
2. Theo dõi thời gian hội ý 1 phút và thời gian 2 phút dành cho đội có cầu thủ bị truất quyền thi đấu.”
3. Dùng ký hiệu hoặc tiếng còi (khác hẳn với tiếng còi của 2 trọng tài) báo hiệu khi kết thúc hiệp 1, hiệp 2, các hiệp phụ (nếu có) và báo hết thời gian hội ý.
4. Theo dõi các lần hội ý của mỗi đội, giúp hai trọng tài và hai đội thực hiện các lần hội ý, ra hiệu cho phép hội ý mỗi khi huấn luyện viên yêu cầu.
5. Theo dõi việc trọng tài xử phạt 5 lỗi Stổng hợp⬝ đầu của mỗi đội trong từng hiệp và kịp thời báo hiệu cho trọng tài khi có đội bóng đã vi phạm đủ 5 lỗi Stổng hợp⬝.
6. Theo dõi những lần dừng trận đấu với lý do cụ thể, ghi vào biên bản những cầu thủ ghi bàn, bị cảnh cáo, bị truất quyền thi đấu, những lần hội ý hoặc bất kỳ thông tin gì khác có liên quan đến trận đấu.
Trong trường hợp có sự can thiệp thiếu trách nhiệm của thư ký bấm giờ hoặc trọng tài thứ 3, trọng tài chính có quyền bác bỏ và thay thư ký bấm giờ hoặc trọng tài thứ 3 khác, đồng thời báo cáo sự việc lên Ban tổ chức có thẩm quyền.
Thư ký bấm giờ sử dụng đồng hồ và những thiết bị cần thiết nhằm thông báo lỗi Stổng hợp⬝ do Liên đoàn bóng đá hoặc Ban tổ chức thi đấu trang bị.
B. Nhiệm vụ của trọng tài thứ 3
1.      Theo dõi hoạt động của thư ký bấm giờ.
2.      Theo dõi và ghi chép 5 lỗi Stổng hợp⬝ đầu của từng đội bóng trong mỗi hiệp và báo hiệu ngay cho trọng tài sau thời điểm đội bóng nào đã bị phạt đủ 5 lỗi Stổng hợp⬝.
3.      Ghi chép những lần tạm dừng và nguyên nhân tạm dừng trận đấu, những cầu thủ ghi bàn thắng, cầu thủ bị phạt thẻ vàng, thẻ đỏ và cung cấp bất kỳ những thông tin nào có liên quan đến trận đấu.
Trường hợp có trọng tài bị chấn thương không tiếp tục làm nhiệm vụ được nữa, trọng tài thứ 3 có thể sẽ là người thay thế với nhiệm vụ trọng tài chính hoặc trọng tài thứ 2.

LUẬT VIII: THỜI GIAN THI ĐẤU

1.      Một trận đấu gồm 2 hiệp, mỗi hiệp 20 phút.
2.      Việc theo dõi từng trận đấu do thư ký bấm giờ chịu trách nhiệm như quy định ở Luật VII.
3.      Ngay trước khi kết thúc mỗi hiệp đấu, một đội bóng được hưởng quả phạt đền hiệp đấu đó phải được kéo dài đủ để thực hiện xong quả phạt đó.
4.      Trong mỗi hiệp đấu, các đội được quyền hội ý một lần với thời gian 1 phút nhưng phải tuân thủ các nguyên tắc sau đây:
a.       Huấn luyện viên của đội mới được quyền yêu cầu thời gian 1 phút hội ý qua thư ký bấm giờ trong bất cứ thời điểm nào của hiệp đấu.
b.      Thư ký bấm giờ chỉ cho phép đội bóng hội ý khi đội bóng khống chế bóng (được quyền đá biên, đá phạt⬦).
c.       Khi hội ý, các cầu thủ phải tập trung ở trong sân và không ai bên ngoài được vào sân. Nếu muốn nhắc nhở điều gì với đội, huấn luyện viên phải thực hiện ở đường biên dọc nơi hàng ghế cầu thủ dự bị.
d.      Nếu trong hiệp 1, đội nào không yêu cầu hội ý, thì sang hiệp 2 cũng chỉ được quyền hội ý 1 lần.
5. Thời gian nghỉ giữa 2 hiệp không quá 15 phút.

LUẬT IX: BẮT ĐẦU VÀ BẮT ĐẦU LẠI TRẬN ĐẤU

A. Bắt đầu trận đấu
1. Trước khi trận đấu bắt đầu, việc chọn sân hoặc đá quả giao bóng phải được xác định bằng cách tung đồng tiền. Đội được quyền ưu tiên sẽ chọn sân hoặc đá quả giao bóng trước.
Sau khi trọng tài chính thổi còi để trận đấu bắt đầu, cầu thủ đội được giao bóng đá quả bóng ở điểm trung tâm sân về phía sân đối phương. Các cầu thủ phải đứng trên nửa phần sân của đội mình, các cầu thủ đội không được giao bóng phải đứng cách xa bóng ít nhất là 3m. Bóng vào cuộc sau khi được đá và di chuyển. Cầu thủ đá quả giao bóng không được chạm bóng lần thứ 2 nếu bóng chưa chạm hoặc đá bởi cầu thủ khác.
2. Sau mỗi bàn thắng, trận đấu được tiếp tục bằng quả giao bóng theo quy định nói trên. Đội vừa bị thua được quyền giao bóng.
3. Bắt đầu hiệp 2, hai đội đổi sân và đội không được giao bóng ở hiệp 1 được quyền giao bóng ở hiệp 2.
Cách xử phạt:
1. Khi giao bóng không thực hiện đúng những quy định 1, 2 và 3 sẽ phải giao bóng lại.
Trường hợp cầu thủ giao bóng lại đá bóng lần nữa trước khi bóng chạm hoặc đá bởi cầu thủ khác, thì đội đối phương được hưởng quả phạt gián tiếp tại điểm phạm lỗi. Nếu điểm phạm lỗi nằm trong khu phạt đền thì quả phạt gián tiếp được thực hiện trên vạch 6m, gần nơi phạm lỗi nhất.
Bóng đá từ quả giao bóng trực tiếp vào cầu môn bàn thắng được công nhận.
B. Bắt đầu lại trận đấu
1.      Sau lúc tạm dừng trận đấu vì bất kỳ lý do gì không ghi trong Luật và lúc đó bóng chưa vượt khỏi các đường giới hạn, thì trận đấu được tiếp tục bằng quả Sthả bóng chạm đất⬝ do một trong hai trọng tài thực hiện tại điểm bóng dừng. Nếu lúc đó, bóng dừng ở khu phạt đền, thì quả Sthả bóng chạm đât⬝ sẽ được thực hiện trên vạch 6m gần vị trí bóng dừng nhất.
2.      Bóng được tính là trong cuộc sau khi chạm mặt sân. Tuy nhiên bóng được thả xuống nếu vượt ra ngoài biên dọc hoặc biên ngang trước khi cầu thủ chạm bóng, trọng tài cho thực hiện lại. Không cầu thủ nào được đá bóng khi bóng chưa chạm mặt sân. Nếu vi phạm trọng tài sẽ thực hiện lại quả Sthả bóng chạm đất⬝.

LUẬT X: BÓNG TRONG CUỘC VÀ BÓNG NGOÀI CUỘC

Bóng ngoài cuộc là:
1.      Khi bóng đã vượt hẳn khỏi biên dọc hoặc biên ngang dù ở trên sân hay trong không gian.
2.      Sau tiếng còi dừng của trọng tài.
Ngoài hai trường hợp trên, bóng được kể là trong cuộc từ lúc bắt đầu trận đấu  cho đến khi kết thúc trận đấu, kể cả các trường hợp sau:
Bóng bật từ cột dọc, xà ngang của khung cầu môn vào trong sân.
Bóng bật vào sân từ trọng tài chính hoặc trọng tài thứ 2 đứng trong sân.
Khi trọng tài chưa thổi còi ngưng trận đấu sau một hành vi được coi là phạm Luật.

LUẬT XI: BÁN THẮNG HỢP LỆ

Bàn thắng được công nhận khi quả bóng đã hoàn toàn vượt khỏi biên ngang giữa hai cột và dưới xà ngang của cầu môn, trừ:
– Những trường hợp đặc biệt do Luật quy định.
– Quả bóng do cầu thủ dùng tay hoặc cánh tay để ném, ôm hoặc đấm vào cầu môn.
Đội ghi điểm bàn thắng hơn là đội thắng. Nếu 2 đội không ghi được bàn thắng hoặc có số bàn thắng bằng nhau thì trận đấu được coi là hoà.

LUẬT XII: LỖI VÀ HÀNH VI THIẾU ĐẠO ĐỨC

A. Trực tiếp
Cầu thủ vi phạm một trong 6 lỗi sau đây mà theo nhận định của trọng tài tuy không cố tình nhưng đã dùng sức mạnh quá mức cần thiết hoặc do bất cẩn:
1.      Đá hoặc tìm cách đá đối phương;
2.      Ngáng hoặc tìm cách ngáng chân đối phương.
3.      Nhẩy vào người đối phương;
4.      Chèn đối phương bằng vai;
5.      Đánh hoặc tìm cách đánh đối phương;
6.      Xô đẩy đối phương;
Và cầu thủ vi phạm một trong 4 lỗi sau đây:
7.      Lôi kéo đối phương;
8.      Nhổ nước bọt vào đối phương;
9.      Tìm cách xoạc bóng khi bóng trong hoặc ngoài tầm khống chế của đối phương, trừ thủ môn trong khu phạt đền của đội mình nhưng động tác không được dùng sức mạnh quá cần thiết hoặc bất cẩn thô bạo.
10.  Cố tình dùng tay chơi bóng như: ôm bóng, đấm bóng, ném bóng bằng tay hoặc cánh tay (không áp dụng quy định này cho thủ môn ở trong khu phạt đền của đội mình).
Sẽ bị phạt quả phạt trực tiếp do đội đối phương thực hiện tại nơi phạm lỗi.
Nếu cầu thủ cố tình vi phạm 1 trong 10 lỗi trên trong khu phạt đền của đội mình, sẽ bị phạt quả phạt đền 6m bất kể bóng ở vị trí nào và trong cuộc. Chỉ những lỗi phạt trực tiếp mới được tính là lỗi Stổng hợp⬝.
B. Gián tiếp
· Thủ môn phạm một trong những lỗi sau đây sẽ bị phạt quả gián tiếp:
1.      Nếu sau khi phát bóng, lại nhận bóng trở lại từ cầu thủ đồng đội chuyển về mà bóng chưa vượt qua vạch giữa sân hoặc chưa chạm hoặc đá bởi cầu thủ đối phương.
2.      Nếu dùng tay chạm hoặc bắt bóng từ quả chuyển về của đồng đội.
3.      Nếu dùng tay chạm hoặc bắt bóng từ quả đá biên về của đồng đội.
4.      Nếu khống chế bóng bằng tay hoặc bằng chân ở bất cứ điểm nào thuộc phần sau đội mình lâu quá 4 giây.
· Hoặc theo nhận định của trọng tài, cầu thủ vi phạm một trong những lỗi sau đây, sẽ bị phạt quả gián tiếp.
1.      Có lối chơi nguy hiểm
2.      Không tranh cướp bóng mà chỉ cố tình ngăn cản đối phương như chạy giữa đối phương và bóng hoặc dùng thân người cản đường di chuyển của đối phương.
3.      Ngăn cản thủ môn đưa bóng vào cuộc.
4.      Phạm một trong bất kỳ lỗi nào khác không được đề cập trong luật XII, mà trận đấu phải dừng lại để cảnh cáo hoặc truất quyền thi đấu của cầu thủ.
Quả phạt gián tiếp cho đội đối phương được hưởng tại vị trí phạm lỗi. Nếu vị trí phạm lỗi xảy ra trong khu phạt đền, quả phạt gián tiếp được thực hiện tại điểm trên đường 6m nơi gần vị trí phạm lỗi nhất.
· Cầu thủ bị cảnh cáo (thẻ vàng) nếu:
1.      Có hành vi khiếm nhã (phi thể thao).
2.      Dùng lời lẽ hoặc hành động phản đối quyết định của trọng tài.
3.      Vi phạm luật nhiều lần.
4.      Trì hoãn đưa bóng vào cuộc.
5.      Không đứng đúng cự ly xa điểm phạt trong những quả phạt góc, đá biên, đá phạt, ném bóng vào cuộc.
6.      Ra vào sân không có phép của trọng tài hoặc vi phạm quy định thay thế cầu thủ dự bị.
7.      Tự ý rời sân không có phép của trọng tài.
Nếu phạm một trong những lỗi trên, cầu thủ bị cảnh cáo và bị phạt quả gián tiếp tại nơi phạm lỗi, trừ trường hợp vi phạm luật trầm trọng hơn. Nếu phạm lỗi trong khu phạt đền của đội mình, quả phạt gián tiếp sẽ được thực hiện trên vạch 6m nơi gần vị trí phạm lỗi nhất.
· Cầu thủ sẽ bị truất quyền thi đấu (thẻ đỏ) nếu theo nhận định của trọng tài cầu thủ:
1.      Có hành vi thô bạo.
2.      Có lối chơi bạo lực.
3.      Nhổ nước bọt vào đối phương hoặc bất kỳ ai.
4.      Ngăn cản cơ hội ghi bàn rõ rệt bằng tay (không áp dụng với thủ môn trong khu phạt đền của đội mình).
5.      Vi phạm lỗi thô bạo ngăn cản cơ hội ghi bàn rõ rệt.
6.      Dùng lời lẽ thô tục hoặc xúc phạm.
7.      Bị cảnh cáo lần thứ 2 trong một trận đấu.
Nếu trọng tài dừng trận đấu để truất quyền thi đấu cầu thủ phạm một trong 2 lỗi (6) hay (7), và không vi phạm lỗi nào khác theo quy định của luật, thì trận đấu tiếp tục bằng quả phạt gián tiếp do đối phương thực hiện tại chỗ phạm lỗi. Tuy nhiên nếu phạm lỗi trong khu phạt đền thì quả phạt gián tiếp sẽ được thực hiện trên vạch 6m gần nơi phạm lỗi nhất.
NHỮNG QUYẾT ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG
LUẬT BÓNG ĐÁ 5 NGƯỜI FIFA
1.      Theo nhận định của trọng tài, nếu một cầu thủ đang di chuyển về hướng cầu môn đối phương với cơ hội ghi bàn rõ ràng mà bị đối phương cố tình truy cản trái phép (có nghĩa là hành vi phạm lỗi phải phạt quả trực tiếp) thì sẽ bị truất quyền thi đấu vì lối chơi thô bạo đó.
2.      Theo nhận định của trọng tài, nếu một cầu thủ không phải là thủ môn ở trong khu phạt đền của đội mình dùng tay ngăn cản bàn thắng hoặc một cơ hội ghi bàn rõ ràng của đối phương sẽ bị truất quyền thi đấu vì lối chơi thô bạo đó.
3.      Cầu thủ bị truất quyền thi đấu không được vào lại sân và cũng không được ngồi ở dãy ghế dành cho cầu thủ dự bị. Đội có cầu thủ bị truất quyền thi đấu sẽ phải thi đấu thiếu người trong 2 phút. Thời gian 2 phút phạt có thể rút ngắn khi trận đấu có bàn thắng. Điều này được quy định như sau:
a.       Trường hợp đội có 5 cầu thủ thi đấu với đội 4 cầu thủ thì khi đội có số đông cầu thủ hơn ghi bàn thắng, đội chỉ có 4 cầu thủ sẽ được bổ sung đủ số lượng.
b.      Trường hợp cả hai đội đều thi đấu với 4 cầu thủ, khi có bàn thắng, cả hai đội đều giữ nguyên số lượng cầu thủ.
c.       Trường hợp đội 5 hoặc 4 cầu thủ thi đấu với đội 3 cầu thủ, khi đội có số lượng cầu thủ đông hơn ghi bàn thắng, đội 3 cầu thủ chỉ được bổ sung một cầu thủ mà thôi.
d.      Trường hợp cả hai đội đều thi đấu với 3 cầu thủ khi có bàn thắng, cả hai đội đều giữ nguyên số lượng cầu thủ.
e.       Trường hợp đội có số cầu thủ ít hơn ghi bàn thắng thì không được bổ sung đủ số lượng.
Việc theo dõi 2 phút phạt dành cho đội có cầu thủ bị truất quyền thi đấu là nhiệm vụ của thư ký bấm giờ và trọng tài thứ 3 (nếu có). Trong trường hợp không có thư ký bấm giờ và trọng tài thứ 3 thì trách nhiệm đó thuộc về trọng tài thứ 2. Cầu thủ vào sân để thay thế cầu thủ bị truất quyền thi đấu phải được sự đồng ý của trọng tài chính và chờ khi bóng ngoài cuộc.

LUẬT XIII: NHỮNG QUẢ PHẠT

Những quả phạt được phân làm 2 loại: STrực tiếp⬝ (bàn thắng được công nhận nếu bóng trực tiếp vào cầu môn đối phương) và SGián tiếp⬝ (bàn thắng chỉ được công nhận nếu trước khi vào cầu môn, bóng đã chạm hoặc được đá bởi một cầu thủ khác).
Khi một cầu thủ thực hiện quả phạt, các cầu thủ đối phương phải đứng cách bóng tối thiểu là 5m cho đến khi bóng đá rời chân và di chuyển. Trường hợp cầu thủ đối phương xông vào hoặc đứng không đủ cự ly 5m trước khi quả bóng được đá đi, trọng tài phải cho thực hiện lại (nếu bóng đã được đá đi) hoặc dừng việc thực hiện quả phạt cho tới khi mọi người thực hiện đúng quy định của Luật.
Bóng phải để Schết⬝ khi thực hiện quả phạt và cầu thủ vừa đá phạt không được chạm bóng lần thứ 2 khi bóng chưa chạm hoặc đá bởi một cầu thủ khác.
Cách xử phạt:
1.      Nếu cầu thủ vừa thực hiện quả phạt, ngay sau khi bóng vào cuộc, lại đá tiếp lần thứ 2 trước khi bóng được chạm hoặc đá bởi cầu thủ khác, sẽ bị phạt quả gián tiếp do đối phương thực hiện nơi vi phạm lỗi. Trường hợp lỗi vi phạm xảy ra trong khu phạt đền thì quả phạt sẽ được thực hiện trên vạch 6m gần chỗ phạm lỗi nhất.
2.      Nếu đội được hưởng quả phạt thực hiện lâu quá 4 giây thì trọng tài sẽ cho đối phương được đá quả phạt gián tiếp đó.
3.      Ký hiệu của trọng tài trong các quả phạt.
a.       Phạt trực tiếp: Sau khi thổi phạt quả trực tiếp, trọng tài một tay chỉ hướng phạt còn tay kia chỉ xuống đất ra hiệu lỗi thứ mấy với trọng tài thứ 3 hoặc thư ký bấm giờ để thông báo số lỗi được tính vào lỗi tổng hợp.
b.      Khi trọng tài phạt quả gián tiếp phải có ký hiệu một tay giơ cao khỏi đầu, lòng bàn tay hướng về phía trước và giữ nguyên như thế cho đến khi bóng được đá đi đã chạm hoặc được đá bởi một cầu thủ khác hay ra ngoài cuộc.
4.      Từ quả phạt trực tiếp, bóng phải vào cầu môn đội đối phương bàn thắng mới được công nhận.

LUẬT XIV: LỖI TỔNG HỢP

1.      Chỉ những lỗi phạt trực tiếp được ghi trong luật XII mới được tính vào số lỗi Stổng hợp⬝.
Những quả phạt lỗi Stổng hợp⬝ trực tiếp vào cầu môn được công nhận bàn thắng.
2.      Năm lỗi Stổng hợp⬝ đầu của mỗi đội trong mỗi hiệp phải được ghi vào biên bản khi kết thúc trận đấu.
3.      Trong 5 lỗi Stổng hợp⬝ đầu của mỗi đội ở mỗi hiệp khi thực hiện quả phạt, đối phương được quyền làm Shàng rào⬝ nhưng phải đứng cách xa bóng tối thiểu 5m.
4.      Nhưng bắt đầu từ lỗi Stổng hợp⬝ thứ 6 trở đi, đối phương không được quyền làm Shàng rào⬝ khi thực hiện quả phạt.
a. Cầu thủ đá phạt phải được báo với trọng tài.
b. Trừ thủ môn đối phương và cầu thủ thực hiện quả phạt, các cầu thủ khác phải ở trong sân nhưng phía sau vạch Stưởng tượng⬝ ngang hàng với bóng, song song với biên ngang và ngoài khi phạt đền.
c. Thủ môn phải ở lại trong khu phạt đền, và cách xa bóng tối thiểu 5m.
d. Các cầu thủ đội đối phương phải đứng cách xa bóng 5m và không được cản trở cầu thủ thực hiện quả phạt. Không một cầu thủ nào được vượt qua vạch tưởng tượng trước khi quả bóng được đá đi rời chân và di chuyển.
A. Quy định tiến hành quả phạt lỗi tổng hợp
1.      Cầu thủ thực hiện quả phạt phải đá bóng với ý đồ ghi bàn chứ không được phép chuyển bóng cho cầu thủ khác.
2.      Khi quả phạt đang thực hiện, không một cầu thủ nào được chạm bóng cho tới khi bóng đụng thủ môn hoặc bật ra từ cột dọc, xà ngang hay ra ngoài các đường giới hạn của sân.
3.      Những quả phạt này không được thực hiện ở cự ly cách đường biên ngang dưới 6m, điểm đặt bóng đá phạt phải dời lên vị trí tương ứng với điểm phạm lỗi và cách đường biên ngang 6m. Khi có lỗi phạt gián tiếp trong khu phạt đền, điểm đặt bóng đá phạt phải ở trên đường 6m nơi gần vị trí phạm lỗi nhất.
4.      Khi cầu thủ phạm lỗi Stổng hợp⬝ thứ 6 trên phần sân đối phương hoặc trên phần sân của đội mình được giới hạn bởi đường giữa sân với đường Stưởng tượng⬝ ngang qua chấm phạt đền thứ 2 và song song với đường biên ngang, đội đối phương sẽ được thực hiện quả phạt ngay tại chấm phạt đền thứ 2 của đội phạm lỗi. Chấm phạt đền thứ 2 nói rõ trong Luật I mục 5. Quả phạt phải được thực hiện theo những điều khoản quy định trong mục A.
5.      Khi cầu thủ phạm lỗi Stổng hợp⬝ thứ 6 trên phần sân đội nhà được giới hạn giữa đường song song với biên ngang đi qua chấm phạt đền thứ 2 và đường biên ngang cuối sân. Đội tấn công được quyền tự chọn một trong 2 vị trí đá phạt là điểm phạm lỗi hay điểm phạt đền thứ 2.
6.      Nếu trận đấu phải đá thêm 2  hiệp phụ, thì những lỗi tổng hợp của hiệp 2 vẫn còn giá trị để tính lỗi tổng hợp trong 2 hiệp phụ.
B. Cách xử phạt
Bất kỳ vi phạm nào với quy định của Luật rơi vào:
1.      Đội bị phạt:
Quả phạt được thực hiện lại nếu không ghi được bàn thắng. Ngược lại nếu ghi được bàn thắng thì bàn thắng được công nhận.
2. Đội được phạt
Quả phạt được thực hiện lại nếu ghi được bàn thắng. Nếu không ghi được bàn thắng thì không thực hiện lại quả phạt.
3. Cầu thủ thực hiện quả phạt
Sau khi bóng vào cuộc lại chạm bóng lần thứ 2, đội đối phương được hưởng quả phạt gián tiếp tại nơi phạm lỗi. Nếu phạm lỗi trong khu phạt đền, quả phạt gián tiếp được thực hiện trên đường 6m ở vị trí gần nơi phạm lỗi nhất.

LUẬT XV: PHẠT ĐỀN

Đội bóng có cầu thủ phạm một trong những lỗi phạt trực tiếp nếu vị trí phạm lỗi trong khi phạt đền của đội mình lúc bóng đang trong cuộc – sẽ bị phạt quả phạt đền.
Từ quả phạt đền, bóng được đá trực tiếp vào cầu môn đội phạm lỗi, bàn thắng được công nhận.
Khi có quả phạt đền ở phút cuối của mỗi hiệp chính, hiệp phụ, phải bù thêm thời gian để thực hiện xong quả phạt đền.
1. Vị trí đặt bóng và cầu thủ:
a. Bóng được đặt tại điểm phạt đền thứ nhất.
b. Cầu thủ đá quả phạt đền phải được thông báo rõ ràng.
c. Thủ môn đội bị phạt:
Đứng trên đường cầu môn giữa 2 cột dọc, mặt đối diện với cầu thủ đá phạt cho đến khi bóng được đá vào cuộc.
d. Các cầu thủ khác:
– Đứng trong sân, ngoài khu phạt đền.
– Phía sau điểm phạt đền.
– Cách xa điểm phạt tối thiểu 5m.
2. Trình tự thực hiện quả phạt:
– Cầu thủ đá phạt phải đá bóng về phía trước.
– Không được chạm bóng tiếp lần thứ 2 khi chưa có cầu thủ nào chạm bóng.
– Bóng vào cuộc sau khi được đá và di chuyển về phía trước.
· Khi quả phạt đền được thực hiện trong 2 hiệp chính, hiệp phụ, trong thời gian bù thêm để thực hiện xong quả phạt đền hoặc khi thực hiện lại quả  phạt đền  Bàn thắng được công nhận nếu trước khi vượt qua đường cầu môn giữa 2 cột dọc và dưới xà ngang, bóng có chạm các cột dọc, xà ngang hoặc người thủ môn.
3. Những vi phạm và xử phạt:
a. Cầu thủ đội phạm lỗi vi phạm:
– Thực hiện lại quả phạt nếu bóng không vào cầu môn.
– Công nhận bàn thắng nếu bóng vào cầu môn.
b. Đồng đội của cầu thủ đá phạt phạm lỗi:
– Bóng vào cầu môn, đá lại quả phạt.
– Bóng không vào cầu môn, không đá lại quả phạt.
c. Cầu thủ đá phạt phạm lỗi sau khi bóng được đá vào cuộc:
Đội đối phương được hưởng quả phạt gián tiếp.

LUẬT XVI: ĐÁ BIÊN

Khi quả bóng hoàn toàn vượt khỏi đường biên dọc dù ở mặt sân hoặc ở trong không gian, cầu thủ của đội không chạm bóng cuối cùng được đá biên về bất kỳ hướng nào tại vị trí bóng vượt khỏi đường biên dọc. Lúc thực hiện quả đá biên, cầu thủ có thể giẫm một phần chân lên đường biên dọc hoặc đứng hẳn ngoài sân. Bóng phải đặt Schết⬝ trên đường biên dọc và được coi là trong cuộc ngay khi được đá rời chân và di chuyển. Cầu thủ đá biên không được chạm bóng lần thứ 2 nếu bóng chưa chạm hoặc được đá bởi cầu thủ khác.
Các cầu thủ đối phương phải đứng cách bóng tối thiểu 5m.
Bàn thắng không được công nhận từ quả đá biên trực tiếp vào cầu môn.
Cách xử phạt:
1.      Nếu đá biên không đúng quy định, quyền đá biên được chuyển cho đội đối phương.
2.      Nếu đá biên không đúng vị trí bóng ra biên dọc, quyền đá biên được chuyển cho đội đối phương.
3.      Nếu cầu thủ đã đặt bóng vào vị trí mà sau 4 giây không thực hiện quả đá biên, quyền đá biên sẽ được chuyển cho đội đối phương.
4.      Nếu cầu thủ đá biên chạm bóng lần thứ 2 trước khi bóng chạm hoặc được đá bởi cầu thủ khác thì sẽ bị phạt quả gián tiếp tại nơi phạm lỗi.
Trường hợp phạm lỗi trong khu phạt đền, quả phạt đền sẽ được đặt trên vạch 6m gần chỗ phạm lỗi nhất.

LUẬT XVII: QUẢ NÉM PHÁT BÓNG

Khi quả bóng hoàn toàn vượt ra khỏi đường biên ngang dù ở mặt sân hay ở trên không, phía ngoài khung cầu môn mà người chạm bóng cuối cùng là cầu thủ đội tấn công, thủ môn đội phòng thủ được thực hiện quả ném phát bóng.
Thủ môn phải dùng tay đưa vào cuộc từ trong khu phạt đền và bóng được coi là trong cuộc ngay sau khi ra khỏi khu phạt đền.
Thủ môn ném phát bóng bằng tay có thể đưa bóng trực tiếp sang sân đối phương.
Các cầu thủ đội đối phương phải đứng ngoài khu phạt đền khi thủ môn ném phát bóng.
Cách xử phạt:
1.      Bón từ quả ném phát bóng hợp lệ trực tiếp vào cầu môn đối phương  bàn thắng không được công nhận.
2.      Nếu quả phát bóng của thủ môn chạm hoặc được đá bởi đồng đội hay đối phương trong khu vực phạt đền của thủ môn đó thì phải phát bóng lại.
3.      Nếu thủ môn sau khi phát bóng ra ngoài khu vực phạt đền lại chạm bóng lần thứ 2 trước khi một cầu thủ khác chạm hoặc đá, trọng tài cho đội đối phương hưởng quả phạt gián tiếp tại chỗ phạm lỗi.
4.      Nếu sau khi phát bóng, thủ môn nhận lại quả bóng từ đồng đội chuyển về bằng tay hoặc khống chế bằng chân. Trọng tài cho đối phương hưởng quả phạt gián tiếp. Quả phạt sẽ được thực hiện trên vạch 6m gần chỗ phạm lỗi nhất.

LUẬT XVIII: QUẢ PHẠT GÓC

Khi bóng hoàn toàn vượt ra đường biên ngang phía ngoài khung cầu môn, dù ở mặt sân hoặc ở trên không mà đội phòng thủ là người chạm cuối cùng – cầu thủ đội tấn công sẽ được hưởng quả phạt góc.
Cầu thủ thực hiện quả phạt góc phải đặt bóng trong cung đá phạt góc.
Các cầu thủ đội đối phương phải đứng cách bóng 5m (ngang vạch quy định) cho đến khi bóng được đá vào cuộc.
Bàn thắng được công nhận nếu bóng trực tiếp vào cầu môn đội đối phương.
Cách xử phạt:
1.      Nếu cầu thủ thực hiện quả phạt góc chạm bóng lần thứ 2 trước khi bóng chạm một cầu thủ khác, trọng tài cho đội đối phương hưởng quả phạt gián tiếp tại chỗ phạm lỗi.
2.      Nếu quả phạt góc không thực hiện đúng quy định, sẽ phải đá lại.
3.      Cầu thủ đã đặt bóng vào đúng vị trí, nếu quá 4 giây mà không thực hiện quả phạt góc, trọng tài cho đội đối phương được hưởng quả phạt gián tiếp tại điểm trong cung đá phạt góc.
NHỮNG HƯỚNG DẪN VỀ ĐÁ LUÂN LƯU 6M
Thi đá luân lưu 6m nhằm xác định đội thắng trong những trận đấu loại trực tiếp có kết thúc hoà.
THỦ TỤC TIẾN HÀNH
1.      Trọng tài chọn cầu môn để thi đá luân lưu.
2.      Trọng tài tung đồng tiền, đội được thăm đá quả đầu tiên.
3.      Trọng tài phải ghi chép kết quả qua mỗi lần đá.
4.      Nguyên tắc mỗi đội được đá 5 quả với quy định:
a. Hai đội cử từng cầu thủ đá luân lưu xen kẽ nhau.
b. Đội trưởng phải thông báo với trọng tài danh sách 5 cầu thủ sẽ thi đá, được chọn trong danh sách 12 cầu thủ đã đăng ký với trọng tài trước trận đấu.
c. Khi trận đấu kết thúc, mỗi đội có số cầu thủ hợp lệ đông hơn đối phương, đội trưởng phải thông báo với trọng tài tên và số áo của cầu thủ không thi đá nhằm đảm bảo trước khi đá, hai đội có số lượng cầu thủ bằng nhau.
d. Trước khi hai đội đá đủ 5 quả, một đội ghi được số bàn thắng nhiều hơn số bàn thắng mà đội kia có thể ghi được nếu đá đủ 5 quả, thì trọng tài cho dừng lại.
e. Nếu sau khi đá đủ 5 quả, hai đội có số bàn thắng bằng nhau hoặc không ghi được bàn thắng nào sẽ tiếp tục đá đối xứng từng quả một cho tới khi hai đội có số lượng quả sút phạt bằng nhau mà có đội ghi được nhiều bàn thắng hơn.
g. Những cầu thủ nào chưa đá 5 quả đầu sẽ được đá những quả đối xứng tiếp theo. Sau khi mỗi đội đã đá hết số cầu thủ còn lại, vẫn hoà thì các cầu thủ đá đợt đầu đá tiếp tục nhưng vẫn theo phương thức đá đối xứng từng quả một.
h. Cầu thủ bị truất quyền thi đấu không được tham gia thi đá luân lưu 6m.
i. Trong suốt quá trình thi đá luân lưu, mọi cầu thủ trong sân đều có quyền thay thế thủ môn.
k. Chỉ có trọng tài và cầu thủ hợp lệ của 2 đội bóng ở lại trong sân trong khi đá luân lưu.
l. Trừ cầu thủ đá phạt và thủ môn 2 đội, tất cả cầu thủ phải ở lại trên nửa phần sân đối diện với phần sân đang thi đá. Trọng tài thứ 2 có trách nhiệm quản lý những cầu thủ đó.
m. Thủ môn cùng đội với cầu thủ thực hiện quả phạt phải đứng trong sân và không gây cản trở đến tiến trình thi đá luân lưu.

Công trình sân bóng Bình Lục – Hà Nam

Công trình sân bóng Bình Lục – Hà Nam

Thông tin công trình sân bóng :

Diện tích: 2250m2

Sản phẩm: VTN 16D04

Chủ sân: Anh Đạt

Một số hình ảnh sân bóng sau khi được hoàn thiện :

cỏ nhân tạo, cỏ nhân tạo sân bóng, cỏ nhân tạo sân vườn

cỏ nhân tạo, cỏ nhân tạo sân bóng, cỏ nhân tạo sân vườn, cỏ nhân tạo trang trí

cỏ nhân tạo, cỏ nhân tạo sân bóng, cỏ nhân tạo sân vườn, cỏ nhân tạo trang trí

cỏ nhân tạo, cỏ nhân tạo sân bóng, cỏ nhân tạo sân vườn, cỏ nhân tạo trang trí

cỏ nhân tạo, cỏ nhân tạo sân bóng, cỏ nhân tạo sân vườn, cỏ nhân tạo trang trí

cỏ nhân tạo, cỏ nhân tạo sân bóng, cỏ nhân tạo sân vườn, cỏ nhân tạo trang trí

Bình lục là một huyện có phong trào tương đối tốt của huyện Hà Nam, sau khi tìm hiểu nhu cầu và anh cũng là một trong những thành viên đội bóng Thành Đạt của huyện nên việc tìm hiểu để phát triển phong trào bóng đá của khu vực không quá bỡ ngỡ đối với anh.Sau khi được đội ngũ dày dạn kinh nghiệm của VTN tư vấn sân bóng Thành Đạt đã hoàn thiện và bắt đầu đi vào sử dụng.

CÔNG TY CỔ PHẦN KINH DOANH VÀ XÂY DỰNG VTN VIỆT NAM

VPGD: Tầng 11 toà K Toà nhà Xuân Mai Complex – Dương Nội – Hà Đông – Hà Nội

Mst: 0108112206

Email: conhantaovtn@gmail.com

Hotline : 0968 090 625

 

Công trình sân bóng khu đô thị Đô Nghĩa,Chủ sân Chú Minh : 0936956856

Thông tin công trình sân bóng Minh Đằng khu đô thị Đô Nghĩa- Chủ sân Chú Minh : 0936956856:

Diện tích: 1190m2

Sản phẩm: VTN 12M04

Chủ sân: Chú Đằng

Một số hình ảnh sân bóng trong quá trình thi công và kinh doanh :

cỏ nhân tạo, cỏ nhân tạo sân bóng, cỏ nhân tạo sân vườn

cỏ nhân tạo, cỏ nhân tạo sân bóng, cỏ nhân tạo sân vườn

cỏ nhân tạo, cỏ nhân tạo sân bóng, cỏ nhân tạo sân vườn

cỏ nhân tạo, cỏ nhân tạo sân bóng, cỏ nhân tạo sân vườncỏ nhân tạo, cỏ nhân tạo sân bóng, cỏ nhân tạo sân vườncỏ nhân tạo sân bóng

Sân bóng nằm trong khu đô thị Đô Nghĩa – Hà Nội, đây là sân bóng duy nhất tại khu vực nên mật độ thi đấu rất cao, các cầu thủ sau khi trải nghiệm thi đấu thực tế trên mặt sân VTN cung cấp và thi công cảm thấy rất hài lòng về chất lượng mặt sân, và thái độ phục vụ rất nhiệt tình của chủ sân.

CÔNG TY CỔ PHẦN KINH DOANH VÀ XÂY DỰNG VTN VIỆT NAM

VPGD: Tầng 11 toà K Toà nhà Xuân Mai Complex – Dương Nội – Hà Đông – Hà Nội

Mst: 0108112206

Email: conhantaovtn@gmail.com

Hotline : 0968 090 625